Đây là một trong những nội dung được trao đổi tại tọa đàm “Quản lý, duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói - Giải pháp nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản” vừa được Trung tâm Khuyến nông Quốc gia - Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng tổ chức ngày 1/10.
Tại buổi tọa đàm, các đại biểu đã cập nhật về chính sách, quy định mới về cấp, quản lý và duy trì MSVT, CSĐG; trong đó có những thay đổi theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và chuyển trọng tâm sang kiểm tra, giám sát sau cấp mã.
Các đại biểu tham dự tọa đàm cũng trao đổi thực tiễn quản lý tại địa phương, nhất là những thuận lợi, khó khăn trong quản lý các vùng sản xuất có quy mô lớn, nhiều hộ tham gia; trên cơ sở đó đánh giá việc duy trì mã số và chất lượng vùng trồng, gắn với quy trình sản xuất an toàn, sử dụng vật tư nông nghiệp đúng quy định và truy xuất nguồn gốc nhằm tăng cường liên kết chuỗi giữa nông dân, hợp tác xã, vùng trồng, cơ sở đóng gói và doanh nghiệp xuất khẩu.

Ông Lê Quốc Thanh - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia (trái) và ông Nguyễn Văn Chương - Giám đốc Trung tâm khuyến nông tỉnh Lâm Đồng chủ trì buổi toạ đàm. (Ảnh: https://doanhnghiepkinhtexanh.vn)
Tọa đàm cũng chia sẻ các giải pháp nâng cao năng lực cơ sở đóng gói, bảo đảm yêu cầu về vệ sinh, kiểm soát chất lượng, bảo quản sau thu hoạch, logistics và truy xuất nguồn gốc; cách ứng dụng công nghệ số trong quản lý dữ liệu mã số, truy xuất nguồn gốc, cảnh báo rủi ro và kết nối thông tin giữa các cơ quan, địa phương và doanh nghiệp và trao đổi giải pháp mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào một số thị trường và nâng cao giá trị, uy tín của nông sản Việt Nam.
Theo số liệu cập nhật đến ngày 18/9/2026, Lâm Đồng có 1.611 mã số vùng trồng, với tổng diện tích 54.298 ha; trong đó 1.094 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu đã được nước nhập khẩu phê duyệt, với diện tích 48.016,96 ha. Ngoài ra, có 216 hồ sơ, diện tích khoảng 3.444 ha, đã được gửi đề nghị phê duyệt.
Toàn tỉnh hiện có 547 mã số cơ sở đóng gói, với tổng diện tích 892.846 m². Riêng đối với một số ngành hàng chủ lực, Lâm Đồng có 137 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng và 126 mã số cơ sở đóng gói thanh long.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý, duy trì mã số cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần được trao đổi tại Tọa đàm, như: bảo đảm tính bền vững của vùng trồng sau khi được cấp mã; kiểm soát việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón; tổ chức sản xuất theo chuỗi; kiểm tra, giám sát sau cấp mã; năng lực thực hiện nhiệm vụ tại cấp cơ sở; liên kết giữa vùng trồng, cơ sở đóng gói và doanh nghiệp xuất khẩu; cũng như việc đáp ứng những yêu cầu thay đổi từ các thị trường nhập khẩu.

Các đại biểu tham quan thực tế cơ sở đóng gói sầu riêng của Công ty TNHH Thương mại Sản xuất Long Thủy tại xã Bảo Lâm 2, tìm hiểu quy trình kiểm soát nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc. (Ảnh: VOV.VN)
Đáng chú ý, theo tài liệu của địa phương, đến ngày 18/9/2026 đã có 173 mã số vùng trồng với diện tích 3.627 ha và 61 mã số cơ sở đóng gói với diện tích 137.489 m² bị đình chỉ hoặc thu hồi. Đây là vấn đề thực tiễn cho thấy yêu cầu duy trì mã số, tuân thủ quy trình sản xuất và kiểm soát chuỗi liên kết có ý nghĩa quyết định đối với khả năng duy trì thị trường xuất khẩu.
Từ thực tiễn của Lâm Đồng, các đại biểu đã tập trung làm rõ câu chuyện “cấp mã số không phải là điểm kết thúc mà là khởi đầu của quá trình quản lý, giám sát và duy trì chất lượng vùng sản xuất, cơ sở đóng gói”; cùng nhìn nhận những thay đổi trong phương thức quản lý mã số khi thủ tục ngày càng được số hóa, phân cấp về cơ sở và rút ngắn thời gian giải quyết; đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với trách nhiệm của địa phương, tổ chức sản xuất, doanh nghiệp và người sản xuất trong việc tự kiểm soát, duy trì các điều kiện đã cam kết.
Thông qua các tham luận, trao đổi và thảo luận tại Tọa đàm, các đại biểu sẽ tập trung nhận diện những điểm nghẽn trong thực tiễn, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nhằm quản lý thực chất, duy trì bền vững mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; nâng cao chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc và năng lực đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu.





