Sáng 7/10, tại Hà Nội, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam phối hợp Tạp chí Kinh Doanh (VnBusiness) và Viện Khoa học Kinh tế Hợp tác tổ chức Diễn đàn “Chuyển đổi số trong Hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường”.
HTX không thiếu công nghệ, thiếu dữ liệu
Phát biểu tại diễn đàn, bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, cho rằng chuyển đổi số không còn là câu chuyện “có cần làm hay không”, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với khu vực kinh tế tập thể.
Vấn đề đặt ra với các HTX hiện nay là bắt đầu từ đâu, cần hỗ trợ gì, ai đồng hành, nguồn lực lấy từ đâu và quan trọng nhất là chuyển đổi số tạo ra giá trị gì cho HTX và thành viên.
Kết quả khảo sát của Viện Khoa học Kinh tế Hợp tác cho thấy chỉ số trưởng thành chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể mới đạt khoảng 29,5%, ở mức “bắt đầu”.
“Trong khi điện thoại thông minh và các thiết bị số ngày càng phổ biến, việc ứng dụng công nghệ vào quản trị, tổ chức sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường tại nhiều HTX vẫn hạn chế. Đáng chú ý, chỉ khoảng 15% HTX sử dụng phần mềm quản trị, trong khi 35% đã ứng dụng truy xuất nguồn gốc”, bà Vân nói.

Bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.
Theo ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, nếu mua công nghệ ở đầu ra trong khi dữ liệu đầu vào chưa được chuẩn hóa thì HTX đang đầu tư “lệch thứ tự”.
Nguyên tắc phù hợp với HTX hiện nay là “dùng chung trước, đầu tư riêng sau”, ưu tiên những giải pháp có thể thuê, sử dụng ngay, cho phép xuất dữ liệu và có khả năng liên thông.
“Với HTX, dữ liệu không phải khái niệm xa vời. Đó là thông tin về thành viên, vùng nguyên liệu, mùa vụ, quy trình sản xuất, sản lượng, chất lượng, chi phí, khách hàng và thị trường.
Khi được chuẩn hóa, dữ liệu giúp HTX biết mình đang sản xuất gì, sản lượng bao nhiêu, chất lượng thế nào, chi phí ra sao và thị trường cần gì. Đây cũng là nền tảng để truy xuất nguồn gốc, minh bạch sản phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường”, ông Hạnh nói.
Truy xuất nguồn gốc để nâng giá trị nông sản
Theo Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam, cùng một sản phẩm nhưng giá trị có thể chênh lệch rất lớn nếu mức độ minh bạch và khả năng kiểm chứng khác nhau.

Nhờ ứng dụng công nghệ thông tin, các HTX đã tiết kiệm được nhiều loại chi phí sản xuất. (Ảnh minh họa).
Bà Vân dẫn chứng cùng là cà phê nhân xanh, có nơi bán 200.000-400.000 đồng/kg, nhưng có sản phẩm đạt 1-2 triệu đồng/kg, thậm chí cao hơn nhiều lần.
Điểm khác biệt không chỉ nằm ở sản phẩm mà còn ở khả năng chứng minh chất lượng, nguồn gốc và câu chuyện phía sau sản phẩm.
“Câu chuyện sản phẩm phải dựa trên nền tảng có thể chứng minh được chứ không phải là câu chuyện cổ tích”, bà Vân nhấn mạnh.
Theo bà, công nghệ có thể giúp HTX ghi nhận và cung cấp thông tin về quá trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc, giới thiệu sản phẩm đến khách hàng. Khi dữ liệu được minh bạch, người tiêu dùng, doanh nghiệp và đối tác có thêm cơ sở để tin tưởng sản phẩm.
Từ cách tiếp cận này, truy xuất nguồn gốc không đơn thuần là việc dán mã QR lên sản phẩm. Phía sau mã QR phải là hệ thống dữ liệu đủ tin cậy về vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, chất lượng và quá trình lưu thông hàng hóa.
Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam cho rằng hành trình chuyển đổi số cần tập trung vào 3 trụ cột: dữ liệu, quản trị và thị trường.
Dữ liệu là nền tảng để HTX hiểu rõ hoạt động của mình. Công nghệ sau đó phải giúp nâng cao năng lực quản trị, giảm chi phí, tăng năng suất, kiểm soát chất lượng và hỗ trợ ra quyết định.
Cuối cùng, chuyển đổi số phải mở rộng thị trường, giúp HTX kết nối với doanh nghiệp, hệ thống phân phối, thương mại điện tử và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Do đó, thước đo chuyển đổi số không phải HTX sở hữu bao nhiêu phần mềm, mà là quản trị tốt hơn bao nhiêu, chi phí giảm thế nào, năng suất và chất lượng tăng ra sao, thị trường mở rộng đến đâu và thu nhập của HTX, thành viên có tăng hay không.
Theo bà Vân, đây cũng không phải quá trình có thể hoàn thành trong thời gian ngắn. Một lộ trình tối thiểu cần khoảng 3 năm, trung bình 5 năm và để chuyển đổi số gắn với thu nhập ổn định có thể cần tới 10 năm.
Không để HTX tự xoay xở chuyển đổi số
Nhân lực là một trong những điểm nghẽn lớn của quá trình chuyển đổi số. Ông Hoàng Hữu Hạnh cho biết 53% giám đốc HTX chưa qua đào tạo chuyên môn, chỉ 13% có trình độ đại học trở lên.
“Trong khi đó, khảo sát cho thấy khả năng sử dụng smartphone tại HTX khá cao, đạt 4,67/5 điểm, nhưng việc ứng dụng máy tính và công nghệ vào công việc còn thấp. Điểm sử dụng máy tính cho công việc chỉ đạt 1,46; hoạt động đào tạo về công nghệ thông tin cũng ở mức rất thấp. Theo khảo sát 200 HTX, điểm trung bình về mức độ chuyển đổi số đạt 94,3/320 điểm, tương đương 29,5%, thuộc mức “bắt đầu””, ông Hạnh nói.

Ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ.
Theo ông Hạnh, nếu HTX chưa có nhân sự đủ năng lực thì không nhất thiết phải tuyển một bộ phận công nghệ thông tin riêng. HTX có thể thuê chuyên gia hoặc sử dụng dịch vụ theo nhu cầu, nhưng phải xác định rõ bài toán cần giải quyết và kết quả cần đạt được.
Theo các chuyên gia, một HTX đơn lẻ khó có thể tự giải quyết toàn bộ bài toán chuyển đổi số.
Nhà nước cần kiến tạo thể chế, hạ tầng dữ liệu và chính sách; Liên minh HTX Việt Nam đóng vai trò kết nối nhu cầu của HTX với công nghệ, tài chính và thị trường; doanh nghiệp công nghệ cung cấp các giải pháp đơn giản, dễ sử dụng, phù hợp từng cấp độ trưởng thành số.
Ông Trịnh Anh Tuấn, Viện Khoa học Kinh tế Hợp tác, đề xuất xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số dùng chung cho khu vực HTX, đồng thời hình thành các hub đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại địa phương.
Cùng với đó là tăng cường đào tạo, hỗ trợ hạ tầng, thiết bị, phần mềm và tài chính; thúc đẩy xúc tiến thương mại, chuẩn hóa sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tìm đầu ra trong nước, xuất khẩu.
Từ góc độ chính sách, ông Hạnh đề xuất hỗ trợ HTX theo từng bậc trưởng thành số, xây dựng một đầu mối dữ liệu, chuẩn hóa danh mục nền tảng dùng chung và hình thành mạng lưới tư vấn viên tại chỗ.
Đặc biệt, các nền tảng dùng chung phải bảo đảm khả năng liên thông và cho phép HTX xuất dữ liệu của mình, tránh tình trạng phụ thuộc vào một nhà cung cấp.
Theo Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam, chuyển đổi số không phải đích đến. Thành công chỉ được xác định khi thành viên sản xuất tốt hơn, HTX quản trị hiệu quả hơn và sản phẩm tiếp cận thị trường rộng hơn.
Do đó, thay vì chạy theo công nghệ mới, các HTX cần bắt đầu từ những việc căn bản như số hóa sổ sách, dữ liệu thành viên, nhật ký sản xuất, vùng nguyên liệu và quy trình sản xuất.
Từ nền tảng dữ liệu đó, HTX mới từng bước lựa chọn công nghệ phù hợp, nâng cao quản trị và mở rộng thị trường.
Theo số liệu được đưa ra tại diễn đàn, cả nước hiện có 35.041 HTX, 164 liên hiệp HTX và 65.910 tổ hợp tác, thu hút gần 7,1 triệu thành viên và tạo việc làm cho khoảng 2 triệu lao động thường xuyên.
Với quy mô, ngành nghề và năng lực quản trị khác nhau, các HTX không thể áp dụng một mô hình chuyển đổi số giống nhau. Một HTX sản xuất rau có thể ưu tiên quản lý vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc, trong khi HTX chế biến cần kiểm soát nguyên liệu, chất lượng, tồn kho; HTX thương mại có thể tập trung vào đơn hàng, khách hàng và các kênh bán hàng.
Điểm chung là chuyển đổi số phải bắt đầu từ bài toán thực tế của HTX, sau đó mới lựa chọn công nghệ phù hợp.
“Dữ liệu sẽ trở thành nguồn lực, công nghệ là công cụ, thị trường là đích đến. Hiệu quả hoạt động của HTX và thu nhập của thành viên mới là thước đo cuối cùng của quá trình chuyển đổi số”, bà Cao Xuân Thu Vân nhấn mạnh. .










