Tỉnh cũng tăng cường quản lý đội tàu, kiểm soát hoạt động trên biển và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ chống khai thác IUU
Theo báo cáo của UBND tỉnh Ninh Bình, công tác chống khai thác IUU thời gian qua được triển khai đồng bộ với sự vào cuộc của các cấp ủy, chính quyền và lực lượng chức năng.
Trong kỳ báo cáo, tỉnh hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao, với 8/8 nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu của Thủ tướng và Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Cùng với đó, 15 nhiệm vụ thường xuyên về chống khai thác IUU đang được triển khai đúng tiến độ, không có nhiệm vụ quá hạn hoặc chậm trễ.
Một trong những nội dung được Ninh Bình tập trung thực hiện là quản lý chặt đội tàu, từ đăng ký, đăng kiểm, cấp phép đến giám sát hoạt động trên biển.
Đến nay, tỉnh đã đăng ký, đánh dấu và viết số đăng ký cho 100% tàu cá có chiều dài từ 6m trở lên, tương ứng 1.401 tàu. Tỷ lệ cấp phép khai thác đối với tàu từ 6m trở lên đạt 99,7%, trong khi tỷ lệ đăng kiểm đối với tàu từ 12m trở lên đạt 99%.

Ninh Bình hoàn thành 100% nhiệm vụ được giao về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định. (Ảnh: Ninhbinh.gov.vn).
Đáng chú ý, nhóm tàu cá từ 15m trở lên có tỷ lệ lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS) đạt 99,4%, tương ứng 616/620 tàu.
Theo UBND tỉnh, các tàu chưa lắp đặt VMS chủ yếu là phương tiện mới đăng ký hoặc nằm bờ trong thời gian dài, không tham gia hoạt động khai thác trên biển.
Việc quản lý đầy đủ thông tin đội tàu tạo cơ sở để cơ quan chức năng theo dõi hoạt động khai thác, kịp thời phát hiện phương tiện có dấu hiệu vi phạm và ngăn ngừa nguy cơ tàu cá khai thác trái phép tại vùng biển nước ngoài.
Kiểm soát chặt tàu cá ra, vào cảng
Cùng với quản lý đội tàu, Ninh Bình tăng cường kiểm soát tàu cá rời cảng, cập cảng và giám sát sản lượng thủy sản bốc dỡ qua cảng.
Tỉnh đẩy mạnh ứng dụng Hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử (eCDT). Theo đó, 100% tàu cá khai báo qua hệ thống eCDT được cảng cá duyệt rời và cập cảng.
Việc ứng dụng hệ thống điện tử giúp chuẩn hóa quy trình kiểm soát, hạn chế bỏ sót thông tin, đồng thời tạo cơ sở theo dõi hành trình và nguồn gốc sản phẩm khai thác.
Lực lượng Biên phòng thực hiện duyệt xuất, nhập bến với tỷ lệ 98,9%. Tỷ lệ giám sát sản lượng thủy sản bốc dỡ qua cảng đạt 86,9%.
Đây là khâu quan trọng trong kiểm soát nguồn gốc thủy sản, phục vụ truy xuất khi sản phẩm được đưa vào tiêu thụ, chế biến hoặc xuất khẩu. Việc kiểm soát từ khi tàu rời cảng, hoạt động trên biển đến lúc cập cảng và bốc dỡ sản phẩm góp phần hình thành chuỗi giám sát đối với hoạt động khai thác.
Đây cũng là nội dung quan trọng trong quá trình thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) về chống khai thác IUU, nhất là kiểm soát đội tàu và truy xuất nguồn gốc thủy sản.
Song song với kiểm soát tại cảng, Ninh Bình tăng cường tuần tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trên biển.

Tàu cá tại cảng cá Quần Vinh, xã Rạng Đông.
Các lực lượng Biên phòng, Công an và ngành Nông nghiệp và Môi trường phối hợp theo dõi hoạt động của tàu cá, tập trung vào những phương tiện có dấu hiệu mất kết nối VMS.
Theo báo cáo, tỷ lệ tàu cá duy trì kết nối giám sát hành trình khi hoạt động trên biển đạt trên 80%.
Đối với trường hợp mất kết nối, cơ quan chức năng theo dõi, xác minh nguyên nhân và xử lý theo quy định. Riêng năm 2025, tỉnh xác minh và xử lý dứt điểm 100% số tàu cá vi phạm lỗi mất tín hiệu VMS trên 6 giờ, tương ứng 209/209 trường hợp.
Việc kiểm soát tín hiệu VMS nhằm ngăn ngừa nguy cơ tàu cá lợi dụng mất kết nối để khai thác trái phép hoặc vượt ranh giới cho phép.
Đáng chú ý, Ninh Bình không ghi nhận tàu cá vi phạm khai thác hải sản bất hợp pháp tại vùng biển nước ngoài và không có tàu vượt ranh giới cho phép khai thác trên biển.
Kết quả này góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm, đồng thời bảo đảm hoạt động khai thác thủy sản tuân thủ quy định.
Nâng cao ý thức, hướng tới khai thác thủy sản bền vững
Bên cạnh quản lý và xử lý vi phạm, Ninh Bình chú trọng tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khai thác thủy sản cho ngư dân.
Trong “Tháng cao điểm chống khai thác IUU”, các lực lượng chức năng tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn ngư dân thực hiện đúng quy định khi đưa tàu ra khơi.
Hàng nghìn lượt ngư dân được tiếp cận thông tin về trách nhiệm duy trì thiết bị VMS, khai báo khi tàu rời và cập cảng cũng như các hành vi bị nghiêm cấm trong khai thác thủy sản.
Tổ công tác xác minh, xử lý tàu cá mất tín hiệu kết nối VMS của tỉnh cũng được duy trì và hoạt động tích cực.
Theo UBND tỉnh Ninh Bình, chống khai thác IUU là nhiệm vụ thường xuyên, không chỉ thực hiện trong các đợt cao điểm. Các cơ quan chức năng tiếp tục rà soát đội tàu, cập nhật dữ liệu, kiểm soát phương tiện có nguy cơ vi phạm và xử lý kịp thời các trường hợp phát sinh.
Những kết quả đạt được cho thấy Ninh Bình đang từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý, giám sát hoạt động khai thác thủy sản theo hướng chặt chẽ và minh bạch.
Từ đăng ký, cấp phép, đăng kiểm, lắp đặt VMS đến kiểm soát tàu ra vào cảng, truy xuất nguồn gốc và xử lý vi phạm, các khâu quản lý ngày càng được kết nối, tạo cơ sở kiểm soát hoạt động của đội tàu.
Đặc biệt, việc không có tàu cá vi phạm khai thác bất hợp pháp tại vùng biển nước ngoài và không có tàu vượt ranh giới cho phép là kết quả đáng chú ý trong công tác phòng ngừa vi phạm của tỉnh.
Tuy nhiên, để duy trì kết quả, Ninh Bình cần tiếp tục kiểm soát chặt kết nối VMS, giám sát sản lượng qua cảng, rà soát các tàu có nguy cơ vi phạm và nâng cao nhận thức của chủ tàu, thuyền trưởng và ngư dân.
Trong quá trình Việt Nam tiếp tục khắc phục các khuyến nghị của EC về chống khai thác IUU, việc thực hiện nghiêm các quy định tại địa phương ven biển có ý nghĩa quan trọng đối với mục tiêu xây dựng ngành thủy sản có trách nhiệm.
Các giải pháp chống IUU không chỉ nhằm kiểm soát khai thác bất hợp pháp mà còn góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nâng cao tính minh bạch của chuỗi cung ứng và tạo điều kiện để sản phẩm thủy sản đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Với việc hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ được giao, duy trì tỷ lệ cao trong đăng ký, cấp phép, đăng kiểm, lắp đặt VMS và kiểm soát tàu cá ra vào cảng, Ninh Bình đang tạo nền tảng để hoạt động khai thác thủy sản phát triển theo hướng bền vững, có trách nhiệm, đồng thời góp phần vào nỗ lực chung của cả nước trong quá trình gỡ “thẻ vàng” IUU.










