mồi cho quán nhậumón cho vườn bia (beer garden)fingerfood tốt cho nhà hàngcua cấp đông có ngon không?
Xuất bản ngày 15/10/2026 10:25 AM

Học Bác Hồ cách tìm người, mời người và giao việc

(VTC News) -

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ kêu gọi người tài ra giúp nước, mà chủ động tìm, trân trọng mời và đặt họ vào đúng việc đất nước đang cần.

Ngày 17/11/1945, hơn hai tháng sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi một bức thư tới cụ Bùi Bằng Đoàn - người từng là Thượng thư Bộ Hình triều Nguyễn, tham gia Viện Cơ mật và có nhiều năm làm việc trong bộ máy cũ.

Trong thư, Người trân trọng nhắc tới học vấn, kinh nghiệm của cụ Bùi và mời cụ làm Cố vấn cho Chủ tịch, góp thêm ý kiến vào việc nước. Sự trọng thị ấy sau đó được thể hiện bằng những công việc và trách nhiệm cụ thể.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xem bản đồ với cụ Bùi Bằng Đoàn, đồng chí Vũ Đình Phụng và Linh mục Phạm Bá Tựu tại cuộc họp Chính phủ năm 1948 ở Việt Bắc. (Ảnh tư liệu)

Chủ tịch Hồ Chí Minh xem bản đồ với cụ Bùi Bằng Đoàn, đồng chí Vũ Đình Phụng và Linh mục Phạm Bá Tựu tại cuộc họp Chính phủ năm 1948 ở Việt Bắc. (Ảnh tư liệu)

Cụ Bùi Bằng Đoàn được cử tham gia Ủy ban Kiến thiết quốc gia, Ban Thanh tra đặc biệt, trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I. Tại Kỳ họp thứ hai của Quốc hội vào tháng 11/1946, theo sự giới thiệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ được bầu giữ chức Trưởng Ban Thường trực Quốc hội.

Câu chuyện cho thấy một nét nổi bật trong cách dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cầu hiền chỉ có ý nghĩa khi người được mời thực sự được giao việc, có vị trí để tài năng và kinh nghiệm phát huy.

Muốn có người tài, phải thực tâm đi tìm

Bức thư gửi cụ Bùi Bằng Đoàn nằm trong một cách tiếp cận rộng hơn về nhân tài ngay từ những ngày đầu lập quốc. Ngày 14/11/1945, ba ngày trước bức thư ấy, bài Nhân tài và kiến quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đăng trên báo Cứu quốc, số 91. Người khẳng định “Kiến thiết cần có nhân tài”, đồng thời nêu yêu cầu phải biết “khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng”.

Điều đáng chú ý không chỉ là sự coi trọng nhân tài mà còn ở cách đặt trách nhiệm tìm người. Trong bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi những người có tài năng, sáng kiến về ngoại giao, kinh tế, quân sự, giáo dục gửi kế hoạch để Chính phủ nghiên cứu và tổ chức thực hiện nếu thấy khả thi.

Bài viết “Tìm người tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh” (Ảnh: Báo Thanh niên - Tư liệu Thư viện Quốc gia)

Bài viết “Tìm người tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh” (Ảnh: Báo Thanh niên - Tư liệu Thư viện Quốc gia)

Một năm sau, trong Tìm người tài đức đăng trên báo Cứu quốc ngày 20/11/1946, Người thừa nhận Chính phủ có thể “nghe không đến, thấy không khắp”, khiến người có tài, có đức chưa có dịp xuất hiện. Từ đó Bác yêu cầu các địa phương chủ động tìm và báo cáo những người có khả năng làm việc ích nước, lợi dân. Trách nhiệm tìm người vì thế được đặt vào chính bộ máy, thay vì chờ người giỏi tự tìm đến.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc - nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng - cho rằng yêu cầu “khéo lựa chọn, khéo phân phối và khéo dùng” thể hiện một cách nhìn rất thực tế: phải nhận diện đúng năng lực, phẩm chất của con người rồi mới có thể đặt họ vào công việc phù hợp.

TS Chu Đức Tính - nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh - lưu ý những nhân sĩ, trí thức được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia chính quyền có xuất thân khác nhau, cũng không phải tất cả đều là đảng viên. Theo ông, điều cốt lõi là lòng yêu nước, khả năng đóng góp và tinh thần đặt lợi ích dân tộc lên trên những khác biệt về xuất thân.

Việc mời cụ Bùi Bằng Đoàn ra giúp nước là một phần trong chủ trương quy tụ nhân tài rộng rãi ấy. Trong những năm đầu của chính quyền cách mạng, nhiều nhân sĩ, trí thức có xuất thân và chuyên môn rất khác nhau như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Nguyễn Văn Tố, nhà giáo Nguyễn Văn Huyên, kỹ sư Trần Đại Nghĩa, bác sĩ Trần Hữu Tước... đã tham gia công việc của đất nước, từ Chính phủ, Quốc hội đến giáo dục, y tế và quân giới.

Sự trọng thị là cần thiết, song điều có sức thuyết phục hơn đối với người tài là họ nhận thấy kiến thức, kinh nghiệm và uy tín của mình thực sự có chỗ trong công việc của đất nước.

Biết người để giao đúng việc

Qua câu chuyện của cụ Bùi Bằng Đoàn, có thể thấy khả năng quy tụ những nhân sĩ có xuất thân khác biệt. Với kỹ sư Trần Đại Nghĩa, nổi bật hơn là cách nhận ra sở trường và giao đúng việc.

Tháng 10/1946, kỹ sư Phạm Quang Lễ từ Pháp trở về nước cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số trí thức Việt Nam. Ngày 27/10/1946, chỉ bảy ngày sau khi về nước, ông được giao lên Thái Nguyên nghiên cứu chế tạo súng chống tăng theo mẫu Bazooka của Mỹ.

Ngày 5/12 cùng năm, khi giao ông làm Cục trưởng Cục Quân giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho ông một cái tên mới: Trần Đại Nghĩa - họ Trần của danh tướng Trần Hưng Đạo, còn “Đại Nghĩa” là nghĩa lớn, để ông ghi nhớ trách nhiệm với nhân dân, đất nước.

Khoảng thời gian rất ngắn từ lúc trở về đến khi nhận nhiệm vụ cho thấy cách dùng người không bắt đầu bằng việc tìm một vị trí phù hợp với bằng cấp hay danh tiếng, mà đặt năng lực ngay vào một nhu cầu cấp bách của đất nước.

Theo PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, chữ “khéo” trong cách dùng người trước hết nằm ở khả năng hiểu một người giỏi ở đâu, sở trường gì và công việc nào giúp họ phát huy tốt nhất.

IMG_7252.jpg

IMG_7252.jpg

Biết người, vì thế, không dừng ở việc nhận ra ai giỏi. Khó hơn là biết dùng năng lực ấy vào đâu.

TS Chu Đức Tính, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Điểm này cũng giúp phân biệt bố trí người tài với trọng dụng người tài. Bố trí có thể kết thúc ở một chức danh hay vị trí trong tổ chức; trọng dụng đòi hỏi thêm một bước - người được lựa chọn phải nhận được nhiệm vụ đủ thực chất để năng lực tạo ra kết quả.

Câu chuyện của kỹ sư Trần Đại Nghĩa thể hiện rất rõ điều đó: chuyên môn không dừng ở giá trị của bằng cấp hay danh tiếng, mà được đặt ngay vào một nhiệm vụ cấp bách của đất nước.

Còn TS Chu Đức Tính cho rằng người có năng lực thường có tư duy độc lập, chính kiến và phương pháp làm việc riêng. Vì vậy, khi đã lựa chọn đúng người, người đứng đầu cần tạo điều kiện để họ làm công việc chuyên môn, thay vì buộc mọi người giỏi phải đi theo cùng một khuôn.

Sự chủ động ấy không đồng nghĩa với một vùng tự do không giới hạn; công việc vẫn phải có mục tiêu, yêu cầu và trách nhiệm. Biết người, vì thế, không dừng ở việc nhận ra ai giỏi. Khó hơn là biết dùng năng lực ấy vào đâu.

Tin dùng phải đi cùng trách nhiệm

Sự tin cậy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với người tài được thể hiện bằng công việc và trách nhiệm cụ thể. Trên cương vị Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, vai trò của cụ Bùi Bằng Đoàn không mang tính danh nghĩa.

Mỗi dự thảo sắc luật trước khi Hội đồng Chính phủ thông qua đều được gửi xin ý kiến Ban Thường trực Quốc hội. Cụ Bùi thường tham dự các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, và Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi ý kiến cụ trước khi kết luận nhiều vấn đề.

Tư liệu của báo Nhân Dân còn ghi lại có lần, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội đồng Chính phủ hoãn một kỳ họp vì cụ Bùi vắng mặt cho thấy sự trọng thị đã được chuyển thành một vị trí thực chất trong quá trình xử lý công việc.

lichsudang.png

lichsudang.png

Trọng dụng nhân tài trong tư tưởng và thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn năng lực với phẩm chất và trách nhiệm đối với đất nước.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc cho rằng trọng dụng nhân tài trong tư tưởng và thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn năng lực với phẩm chất và trách nhiệm đối với đất nước. Người có tài được tạo điều kiện phát huy sở trường, song tài năng ấy phải phục vụ lợi ích chung - không phải cứ tin người tài là trao quyền vô điều kiện. Sự tin cậy chỉ có ý nghĩa khi chuyển thành công việc và kết quả.

Hơn tám thập niên sau, hoàn cảnh phát triển của đất nước đã thay đổi rất sâu sắc; không thể đồng nhất cách dùng người trong hoàn cảnh lịch sử ấy với chính sách nhân tài hôm nay. Tuy nhiên, giữa hai bối cảnh vẫn có một điểm gặp nhau về nguyên tắc: người tài phải được đặt vào những công việc thực sự cần đến năng lực của họ.

Tại cuộc làm việc về Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài ngày 24/8/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu gắn nhân tài với những bài toán cụ thể, coi trọng kết quả, giá trị và tác động thực tế.

Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, chiều tối 7/9 tại Moskva, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ Đại sứ quán và cộng đồng người Việt Nam tại Nga. Trong bối cảnh ngày càng nhiều người Việt tại Nga tham gia nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động khoa học, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn các nhà khoa học, chuyên gia, trí thức trở thành lực lượng tiên phong kết nối tri thức, khoa học, công nghệ và các sáng kiến hợp tác mới.

Phát biểu này cũng đặt trong tinh thần của Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết xác định hơn 6,5 triệu người Việt tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng của quốc gia, đồng thời yêu cầu chuyển mạnh từ vận động, tập hợp sang đồng hành, kiến tạo cơ chế và phát huy hiệu quả nguồn lực, trí tuệ của cộng đồng.

Bàn về việc thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài, Đại sứ Vũ Quang Minh - nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao - cho rằng không nên yêu cầu người tài trở về trước rồi mới tìm việc cho họ.

Theo ông, cần có “một công việc đủ lớn, một môi trường đủ tốt và một cam kết đủ đáng tin” để họ có lý do trở về hoặc hợp tác. Cách đặt vấn đề ấy đưa câu chuyện trọng dụng trở lại một câu hỏi rất thực tế: đất nước đang cần người tài giải quyết việc gì?

Sau lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Bùi Bằng Đoàn tham gia ngày càng sâu vào công việc của Nhà nước và Quốc hội. Với kỹ sư Trần Đại Nghĩa, chỉ ít ngày sau khi trở về từ Pháp, chuyên môn của ông đã được đặt ngay vào nhiệm vụ quân giới mà đất nước đang cấp thiết cần. Hai con người khác nhau về xuất thân và chuyên môn cùng gợi ra một nguyên tắc: tài năng chỉ trở thành nguồn lực khi được nhận ra, đặt đúng chỗ và có việc thực sự để làm.

Nhóm PV
Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn
Cùng chuyên mục