Những ngày qua, mạng xã hội lan truyền đoạn video ghi lại cuộc tranh luận giữa một phụ nữ đại diện đội phá dỡ công trình và người đàn ông là chủ nhà tại ngõ 55 Nguyễn An Ninh, phường Tương Mai, Hà Nội.
Trong video, người phụ nữ cho biết bà được thuê để phá dỡ công trình và cho rằng phía chủ nhà phải thanh toán tiền công sau khi công việc hoàn thành. Người này cũng cho biết đang giữ các tin nhắn trao đổi giữa hai bên liên quan đến việc phá dỡ công trình.
Trong khi đó, người đàn ông trong video phủ nhận việc thuê đơn vị phá dỡ công trình. Người này khẳng định, đây là đất của mình và cho rằng bản thân không yêu cầu người phụ nữ đến thực hiện công việc.
Công an phường Tương Mai đã tiếp nhận thông tin liên quan vụ mâu thuẫn về tiền phá dỡ công trình tại ngõ 55 Nguyễn An Ninh. Theo trình báo, gia đình anh N.H.B. (SN 1993, trú tại phường Tương Mai) trước đó thuê chị N.T.L. (SN 1982, trú tại phường Tương Mai) phá dỡ công trình. Trong quá trình thi công, hai bên phát sinh mâu thuẫn, sau đó chấm dứt hợp đồng và anh B. đã chuyển 20 triệu đồng.

Khu vực xảy ra vụ việc. (Ảnh: Chụp màn hình)
Những diễn biến trên của vụ việc khiến nhiều người đặt ra câu hỏi, trong trường hợp chủ nhà phủ nhận việc thuê phá dỡ và yêu cầu phải có hợp đồng giấy, những tin nhắn trao đổi giữa hai bên có thể được sử dụng để chứng minh giao dịch không?
Không có hợp đồng giấy có đồng nghĩa không có giao dịch?
Trả lời PV Báo Điện tử VTC News, TS.LS Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư TP Hà Nội), cho rằng đây là vụ việc có dấu hiệu tranh chấp dân sự liên quan đến giao dịch thuê thực hiện việc phá dỡ công trình và nghĩa vụ thanh toán tiền công.
Theo TS.LS Đặng Văn Cường, khi giải quyết vụ việc cần căn cứ vào quá trình các bên giao kết và thực hiện thỏa thuận, không nên chỉ dựa vào việc có hay không một bản hợp đồng giấy.
“Pháp luật không bắt buộc hợp đồng dân sự tháo dỡ nhà phải bằng văn bản”, luật sư Cường nói.
Theo ông, giao dịch dân sự trong nhiều trường hợp có thể được xác lập bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể. Các giao dịch thuê nhân công, thuê dịch vụ cũng có thể được các bên thỏa thuận thông qua điện thoại, tin nhắn hoặc phương thức điện tử khác.

Tin nhắn trao đổi giữa hai bên liên quan đến việc phá dỡ công trình.
Do đó, cần xác định ai là người liên hệ thuê phá dỡ, người này có quyền quyết định đối với công trình hay không, hai bên thỏa thuận giá cả thế nào, công việc được thực hiện ra sao và nghĩa vụ thanh toán phát sinh từ đâu.
Việc người đàn ông yêu cầu xuất trình hợp đồng là quyền của người phủ nhận việc thuê. Tuy nhiên, theo luật sư, nếu cho rằng chỉ hợp đồng giấy có chữ ký của mình mới chứng minh được giao dịch thì cách hiểu này chưa đầy đủ.
“Không thể chỉ nhìn vào việc có hay không có hợp đồng giấy để kết luận bên nào đúng”, TS.LS Đặng Văn Cường nhấn mạnh.
Luật sư cũng cho rằng nếu một bên biết máy móc, nhân công đang thực hiện việc phá dỡ trong thời gian dài nhưng không phản đối, ngăn cản hoặc yêu cầu dừng lại thì đây là tình tiết cần được xác minh cùng những chứng cứ khác. Tuy nhiên, việc không phản đối không tự động chứng minh người đó đã thuê phá dỡ.

Lực lượng công an có mặt tại hiện trường để giải quyết vụ việc. (Ảnh: Chụp màn hình)
Tin nhắn có đủ căn cứ để đòi tiền?
Về những tin nhắn mà người phụ nữ cho biết đang lưu giữ, TS.LS Đặng Văn Cường cho rằng đây có thể là nguồn chứng cứ quan trọng nếu vụ việc được đưa ra tòa và dữ liệu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
“Tin nhắn, ghi âm, ghi hình cũng có thể được coi là chứng cứ nếu khách quan, liên quan và thu thập hợp pháp”, luật sư nói.
Theo ông, Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về chứng cứ; Điều 94 xác định dữ liệu điện tử là một trong những nguồn chứng cứ. Vì vậy, tin nhắn qua điện thoại, ứng dụng nhắn tin hoặc các phương thức điện tử khác có thể được tòa án xem xét nếu chứng minh được nguồn gốc, tính xác thực và mối liên hệ với giao dịch đang tranh chấp.
Chẳng hạn, nếu tin nhắn thể hiện người đàn ông yêu cầu đưa máy xúc đến phá dỡ, trao đổi thời gian, khối lượng công việc, giá tiền hoặc xác nhận công việc đã hoàn thành thì những nội dung này có thể giúp chứng minh quá trình giao dịch.
Tuy nhiên, luật sư lưu ý người phụ nữ không nên chỉ cung cấp một vài ảnh chụp màn hình riêng lẻ.
“Cũng không nên hiểu rằng cứ có một vài tin nhắn là chắc chắn thắng kiện. Tòa án sẽ đánh giá toàn bộ hệ thống chứng cứ”, ông Cường nói.
Ngoài tin nhắn, người yêu cầu thanh toán có thể cung cấp lịch sử cuộc gọi, camera, hình ảnh máy móc và nhân công tại công trình, người làm chứng, chứng từ thuê máy móc, tiền nhiên liệu, nhân công cùng các tài liệu liên quan khác.
Nếu chứng minh được người phụ nữ thực sự được thuê, đã thực hiện công việc và bên thuê còn nghĩa vụ thanh toán thì có quyền yêu cầu trả tiền. Trường hợp thương lượng không thành, có thể khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền.
Ngược lại, nếu có căn cứ xác định người phụ nữ tự ý đưa máy móc, nhân công vào phá dỡ mà không được chủ sở hữu hoặc người có quyền hợp pháp cho phép thì bản chất vụ việc sẽ khác và trách nhiệm của các bên cần được xem xét theo quy định pháp luật.
TS.LS Đặng Văn Cường cũng lưu ý việc đoạn clip được đăng tải trên mạng xã hội và thu hút sự chú ý không đồng nghĩa những người liên quan đã có hành vi gây rối trật tự công cộng. Trách nhiệm pháp lý chỉ được xác định trên cơ sở hành vi cụ thể và kết quả xác minh của cơ quan có thẩm quyền.










