Theo bảng xếp hạng Chỉ số hành tinh hạnh phúc (HPI) do Quỹ kinh tế mới (NEF) - một tổ chức phi chính phủ nghiên cứu về kinh tế, xã hội và môi trường công bố ngày 14-6, Việt Nam chỉ xếp sau Costa Rica trong danh sách 151 quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát.
Tiến sỹ Xã hội học Trịnh Hòa Bình
Theo NEF, HPI được xây dựng căn cứ 3 tiêu chí là: mức độ hài lòng với cuộc sống, tuổi thọ trung bình khi mới sinh và dấu chân sinh thái (khái niệm của ngành khoa học môi trường để đo tỉ lệ khai thác và tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, cũng như đồng hóa và xử lý chất thải). Điều ngạc nhiên là những quốc gia phát triển cũng chỉ chiếm một thứ hạng khiêm tốn như Mỹ - 105, Nga - 122, Nhật - 45, Trung Quốc - 60. Kết quả này đã gây không ít bất ngờ và tạo nên nhiều luồng ý kiến đối nghịch. Một mặt, người ta cảm thấy tự hào khi người Việt Nam có một cái nhìn đầy lạc quan về cuộc sống và quan điểm hạnh phúc. Nhưng bên cạnh đó, không ít người vẫn tỏ ra hoài nghi với tính xác thực của kết quả này và cho rằng đây là một cách “tô hồng” sự thật.
PV Tạp chí Truyền hình KTS VTC đã có cuộc trao đổi với TS Xã hội học Trịnh Hòa Bình về vấn đề này.
Suy nghĩ của ông thế nào khi nghe về kết quả người Việt Nam hạnh phúc thứ hai trên thế giới?
Lần đầu tiên tôi được nghe về “Chỉ số hành tinh hạnh phúc” là vào năm 2009, nhưng thú thật là đến tận bây giờ tôi mới biết thông tin Việt Nam xếp thứ hai trên bảng xếp hạng này. Dẫu sao thì từ thứ hạng đó cũng gợi lên cho chúng ta một suy nghĩ, cảm xúc nào đó, có thể tự hào, băn khoăn hoặc thậm chí là nghi ngờ. Nhưng nếu nhìn nhận trên một đại thể, bất cứ một cuộc xếp loại, phân chia tính toán nào cũng có những điểm mạnh và điểm yếu nhất định và có cái lý riêng của nó. Chắc chắn là không ít người dân Việt Nam sẽ cảm thấy tự hào bởi vì không những mình nằm trong Top ten mà còn ở tầm cỡ nhận huy chương bạc. Điều này cũng cho thấy một điều người Việt Nam thực sự muốn mình được hạnh phúc, còn chuyện Việt Nam có thực sự là một nước như thế hay không thì đó là một câu chuyện khác.
Ở đây người ta chỉ cung cấp tiêu chí thôi, còn về thang đo cụ thể thì tôi không được biết nhưng nếu có hình thức thu thập ý kiến của người dân, tất nhiên việc lấy ý kiến người dân chưa hẳn đã là chính xác bởi vì nó có bao hàm ý chủ quan, nhưng dù sao đó vẫn là một con số khả quan. Có thể gần đây có nhiều xu hướng đại gia này đại gia kia nhưng đó không phải chỉ chung người Việt Nam vì người Việt Nam vốn dĩ lạc quan, biết tiết kiệm, biết lo toan, “của ăn của để”, biết làm giàu trong những điều kiện khó khăn. Có thể với những đức tính như vậy, người Việt Nam chúng ta trong bối cảnh mới của đất nước, tự cho mình đang ở trong một quốc gia hạnh phúc. Hạnh phúc không chỉ phụ thuộc vào mức sống, năng lực tiêu dùng của thị trường, mà còn ở chỗ không có sự rủi ro, đe dọa của chiến tranh và thiên tai, xung đột giáo phái sắc tộc và hiểm họa từ bên ngoài. Có lẽ người Việt Nam nếu nghĩ lạc quan về mình có thể thấy sau mấy năm đổi mới, những thành tựu từ y học khiến tuổi thọ người dân tăng lên. Ở đây tôi cũng tán đồng với những tiêu chí của họ, chẳng hạn như không tiêu tốn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Dẫu vậy, chúng ta cũng không phải một quốc gia ở tầm thấp hay trung bình mà phải từ mức độ trung bình khá trở lên vì ở đây có liên quan đến cả chỉ số phát triển con người, mối quan hệ giữa người với người, tình bằng hữu giúp đỡ lẫn nhau trong xã hội.

Xét về nhiều yếu tố như tuổi thọ trung bình, tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, Việt Nam dù có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa là xuất sắc, nhưng lại được xếp thứ hai trên toàn thế giới và đứng đầu trong khu vực. Liệu có sự mâu thuẫn nào không, thưa ông?
Tôi nhớ không nhầm thì trong các bảng xếp hạng trước, Singapore cũng là một trong số các quốc gia được xếp vào thứ hạng cao. Nhưng lần này tôi không hiểu vì lý do gì mà không còn thấy bóng dáng của quốc đảo này trong bảng xếp hạng nữa. Tôi tán thành với ý kiến là Việt Nam chúng ta dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng trên thực tế chúng ta vẫn chưa được xếp vào nhóm “Những con rồng châu Á” đâu, trong khi không phải là chúng ta không có tham vọng làm điều đó.
Thực tế dù đã được cải thiện tốt nhưng Việt Nam vẫn chưa phải là nước có tuổi thọ cao. Rồi chỉ tiêu giáo dục, chúng ta hiện nay vẫn chỉ là phát triển “xổi”, ào ạt và có vấn đề. Rồi về tài nguyên môi trường, vì hiện nay chúng ta vẫn chưa đủ công nghệ khai thác để tiêu tốn lắm. Những chuyện này chứng tỏ một điều rằng Việt Nam chưa hẳn đã ổn trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lý. Chắc chắn là chúng ta có vấn đề. Còn các chỉ số khác thì cũng chưa phải là các chỉ số bền vững, như chỉ số giáo dục, y tế… luôn luôn chấp chới, đứng trên thử thách và lúc nào cũng có thể bị gạt lại. Dẫu rằng thiên hạ xếp chúng ta ở vị trí thứ hai nhưng tôi nghĩ là họ có cách tính riêng và có thể gia trọng ở một khu vực nào đấy, chúng ta mới có thể vượt được lên chứ còn chúng ta khó có thể nằm trong Top 2 của thế giới được.
Như vậy, theo ông thì kết quả này chưa thực hợp lý?
Điều đáng suy ngẫm ở đây là chúng ta lại gia nhập cùng hàng với các quốc gia ở Mỹ Latinh và Caribê. Đặt trong hệ quy chiếu là các nước thuộc G8 lại không nằm trong top đầu, nước cao nhất là Anh cũng chỉ đứng thứ 41. Đây cũng chỉ là một cách xếp loại, nhưng chắc chắn là người Việt Nam với chủ nghĩa lạc quan, tinh thần lao động cần cù và với óc thực dụng thì hoàn toàn có khả năng được xem xét và xứng đáng ở thang bậc cao.
Thực tế là khi đọc được thông tin về kết quả này trên báo chí, không ít người phải ngỡ ngàng. Ông nghĩ sao về điều này?
Cá nhân tôi cho rằng, nếu có một chỉ số nào đó hay bộ tiêu chí đánh giá nào công bằng hơn, cho dù bất cứ một cách đo nào cũng có khiếm khuyết của nó thì Việt Nam chỉ nên đứng ở top 30. Top 30 là tốt lắm rồi vì nên nhớ là thế giới có những hơn 300 nước, thuộc 10% đã là hạnh phúc lắm rồi. Có một điều khiến tôi thấy mỉa mai thay là Việt Nam lại xếp vào hàng những quốc gia thuộc vùng Caribe vốn nổi tiếng về… cướp biển.

Những quốc gia có nền kinh tế phát triển đều không nằm top đầu, điều này có phải chứng minh một điều rằng hạnh phúc không cần đến vật chất?
Các yếu tố vật chất là cơ sở và là điều kiện để tạo nên hạnh phúc. Bởi vì dẫu thế nào đi chăng nữa, việc thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng của cuộc sống con người cao. Tuy nhiên, việc chạy theo những nhu cầu vật chất thuần túy khiến xã hội ngày càng gia tăng sự vô cảm và thiếu những giá trị nhân văn. Đó không phải là điều mà con người mong muốn đạt tới mà con người ta muốn sống trong tình bằng hữu, sống trong sự nhân ái chan hoà và phải có sự hài hòa giữa vật chất, tinh thần, tình cảm.
Cách đây khoảng 15 năm, mỗi khi ra đường mọi người rất ít đánh cãi nhau nhưng bây giờ ra đường lúc nào cũng chỉ muốn xả thẳng điều gì đó vào người khác, va chạm xe cộ nhẹ nhẹ cũng sẵn sàng rút hung khí từ cốp xe ra. Điều đó không cho thấy một đất nước mà người dân cảm thấy hài lòng với trật tự xã hội, như vậy thì không thể gọi là hạnh phúc được. Dẫu sao người ta vẫn hay nói với nhau rằng ở Việt Nam mà có nhiều tiền thì sống cũng dễ chịu, và dễ chịu ở đây có lẽ cũng là hạnh phúc. Tất nhiên hạnh phúc không chỉ bó hẹp trong chuyện có nhiều tiền, vật chất không làm nên được điều đó mà còn cần phải có tinh thần nữa.
Ở Việt Nam hiện nay thì đại gia vẫn chỉ là một bộ phận nhỏ, vậy có quá đáng không khi khoác lên người nghèo cái danh hiệu “hạnh phúc”?
Có tiền không có nghĩa là có hạnh phúc ngay. Nhưng tiền cũng là điều kiện cần và đủ và cơ sở để làm nên hạnh phúc. Nếu như người dân Việt Nam ai cũng có tiền thì chúng ta có thể tiến tới xây dựng một xã hội khá giả, phong lưu, điều đó rất tốt. Nhưng xã hội đó chỉ xây dựng được khi mà đời sống tinh thần phải yên lành, không có hiểm họa đe dọa về tai nạn, rủi ro. Tạm bỏ qua thiên nhiên, thì vẫn còn rất nhiều điều khác chúng ta vẫn chưa chế ngự được, chưa giải quyết được hoàn toàn thì vẫn chưa phải là một xã hội hạnh phúc. Bởi con người nhiều mối lo lắm. Một thời gian dài lúc nào chúng ta cũng có một chữ A: “a, có điện rồi”, “a, có nước rồi”, vào bệnh viện thì lo giường, ở chỗ nào cũng có “cò”, thậm chí cổng trường thực nghiệm cũng bị xô đổ không phải vì người xấu mà bởi đám đông người xin học. Vì chúng ta “thiếu”. Khi nhu cầu chúng ta bị đè nén đến mức thấp nhất, nhiều hiểm họa quá thì khi chỉ được thỏa mãn một chút thôi cũng đã thấy vui lắm rồi. Điều đó giải thích vì sao mà ở Nhật Bản hay Thụy Điển, đời sống phát triền như thế, con người ta thoả mãn như thế mà vẫn có người tự tử vì bế tắc.
Ông có nghĩ rằng “thành tích” này của Việt Nam sẽ có một làn sóng phản đối và phủ nhận?
Tôi cho rằng sẽ có nhiều thái độ. Có những người phản đối, có người cười mai mỉa và có người thì nói rằng mỗi tổ chức một quan điểm. Nếu soi vào đó thì sẽ thấy được điểm này điểm kia. Bởi thực tế thì Việt Nam ta cũng không phải là tệ lắm. Nhưng tôi cho rằng sẽ có số nhiều hơn những người không thực sự coi trọng cách xếp loại như vậy. Người VN cũng đủ thực dụng, thực tế để không bị sa vào chuyện này, tranh cãi xem chúng ta có xứng đáng hay không mà người ta sẽ lo cho cuộc sống của họ nhiều hơn.
Ông có nghĩ rằng kết quả này sẽ khiến căn bệnh “tự thoả mãn” ngày càng phát triển trong người dân?
Với số đông, tôi nghĩ rằng điều này không ảnh hưởng đâu. Nhưng không ngoại trừ sẽ có một bộ phận nhỏ lợi dụng điều này để tuyên truyền xấu, một bộ phận khác nữa cũng có thể bị ảnh hưởng theo tinh thần ngộ nhận. Vì con người ta lắm khi cũng sống bằng sự tự ngộ nhận, đi lên bằng ngộ nhận nhưng nên nhớ là ngộ nhận chỉ có ý nghĩa trong một giai đoạn nhất định nào đấy mà thôi. Không thể bắt người ta sống mãi với sự ngộ nhận ấy được.
Xin cảm ơn ông!
Thu Hương

