Những dòng sông rộng dài quanh năm nước ăm ắp vơi đầy trôi chảy, cùng những cánh đồng châu thổ xanh xanh màu lá thẳng cánh cò bay, đã không còn gây ấn tượng nhiều với tuổi trẻ bây giờ. Nhưng những cảnh hình ấy lại sâu đậm trong trái tim tôi khi ở tuổi họ. Lớn lên đi xa làm xa nơi đâu cũng bám bên lưu vực những dòng sông. Những nơi ấy trên bến dưới thuyền. Thuyền bè xuôi ngược trên sông. Có những chiếc cầu bắc qua như cầu vồng bảy sắc từ bờ này vươn qua bờ khác. Bến lẻ trong đêm ơi ới tiếng gọi đò. Sông Hồng. Thú vị nhất là những chuyến di chuyển dài bằng ca-nô hay bằng thuyền gỗ dọc sông ngót trăm cây số. Chung đi với đủ hạng người. Chung nghe đủ chuyện trên đời. Ngắm nhìn hai bên bờ sông bao cảnh trí.
Chỉ một khúc sông Hồng chảy ngang bên thành phố đã cho người sống trong thành phố và sống ven sông những kỷ niệm lưu giữ mãi một góc lòng, thỉnh thoảng bổi hổi bồi hồi kể lại cho con cháu nghe.
“Anh dắt tay em sang bên kia cầu
“Có bãi ngô thơm bồng bềnh chìm nổi…
Mùa mưa khúc sông cuồn cuộn phù sa đỏ, để rồi mùa khô nước vơi lưng chân cầu, giữa sông dềnh lên những bãi nổi. Bãi nổi lớn bãi nổi nhỏ phù sa ánh vàng dưới nắng tới xế trưa. Người ta chống sào chiếc thuyền tre nhỏ kéo nhau ra bãi nổi, chỉ việc dùi đất tra hạt ngô, chỉ việc rạch đất cũng gieo được đậu. Thế là hạt tách vỏ già bật mầm sống và trỗi dậy như đội đất mà lên.
Chỉ một tuần trăng hay hơn một chút, những bãi nổi lớn bé ấy được phủ kín màu xanh non của hoa màu, chỉ nhìn thôi đã như đầu lưỡi mình chạm ngọt. Xuôi xuống phía nam sông là bến cảng Phà Đen. Tầu thuyền neo đậu sin sít. Chuyển hàng và đợi ăn hàng theo sông đưa tới những nơi gần những nơi xa. Tầu thuyền khách cũng vậy. Tiếng còi giục giờ rời bến loang trên mặt sông. Ngược lên phía bắc quãng Chèm Vẽ xã Thụy Phương, là những dãy dài bè gỗ, bè tre, bè luồng nứa như những con rồng rồng rắn nhau thả theo con nước trôi xuôi, không cần buồm, không sào chống đẩy. Một phóng viên nhiếp ảnh bạn tôi khoe chỉ vì mê hình ảnh những chiếc bè nối dài dài uốn lượn trôi trên sông Hồng mà anh đã mất đứt một tuần lễ rình đón trên cầu Việt Trì, xả chục cuộn phim, để lọc được năm cái ảnh quý hiếm khó mà tái hiện trở lại. Những con đê sải dài hai bờ sông hằng năm được bồi đắp, hai mái ta-luy thảm mịn cỏ xanh non, thủng thẳng những con bò con dê nhà chăn thả điểm xuyết những chấm nâu vàng. Thật bắt mắt. Bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông trôi chảy cùng dòng sông. Như một điệp khúc thời gian.
“Đã nói chi được nhiều mà Thu đi vội thế
“Để lại tôi mùa Đông
“Chớm heo may lòng sao lạnh lẽo
“Hồng chín muộn cho Cốm lẻ loi
“Thuyền găm sào bên bờ bến đợi
“Hoa cỏ may bay vương nhớ Thu hoài
Vẫn nhớ. Cuộc sống luôn êm đềm cho dòng sông Hồng này. Ngay khi có chiến tranh phá hoại của máy bay giặc Mỹ cũng thế. Sau tiếng còi báo động, rồi báo yên máy bay địch đã ra xa, là cuộc sống thanh bình ập òa trở lại.
Sông Hồng trong chiến tranh chống thực dân Pháp những năm đầu năm 50 thế kỷ trước cũng thế thôi mặc dù có những cuộc giao tranh trên những khúc sông Thao, sông Lô, sông Chảy miền trung du. Sông đã đẹp rồi lại có thêm anh hùng ca sông Hồng bỗng đẹp thêm lên. Như cô gái có thoa chút son phấn. Trận chiến Ngã Ba Sông là một ví dụ. Bộ đội địa phương cùng du kích ta hồi đó đâu có đại bác tầm xa. Cối cũng chỉ giã xa hai ba chục mét. Quân ta mưu trí thả những quả thủy lôi giả làm từ vỏ quả bầu khô rải đầy nửa sông bên này, tàu chiến địch chạy tránh sang nửa sông bên kia, thế là đánh, đánh xả láng trong tầm tay với. Thắng to thắng đậm. Ở nơi đó nay đặt một tượng đài hoành tráng gọi là tượng đài “Chiến thắng Ngã Ba Sông”. Đi trên đường bộ hoặc dưới sông xanh cách năm cây số là nhìn thấy.
Trong chuyến lên Lao Cai gần đây tôi đi cùng một cựu binh thông thạo sông Hồng như lòng bàn tay anh vậy.
Anh dùng bút dạ vẽ một con bướm hoa kín trang giấy khổ A4 hướng bay về phía Đông Nam. Trên hai cánh anh khoanh những khoanh tròn và bầu dục. Anh đưa lên trước mặt tôi, nói: “Lao Cai đấy!” Anh cười cười chỉ vào từng khoanh tròn hoặc bầu dục, thuyết minh: ” Cánh bướm bên phải: Vòng đầu tiên là huyện Văn Bàn. Vòng thứ hai là Sa Pa. Và vòng thứ ba là huyện Bá Xát. Còn cánh bên trái: Vòng đầu tiên là huyện Bắc Hà. Vòng thứ hai là huyện Xi Ma Cai. Vòng thứ ba là huyện Bảo Yên. Vòng thứ tư là huyện Bảo Thắng. Vòng cuối cùng là huyện Mường Khương.” Rồi anh chỉ vào thân con bướm: “Đó là sông Hồng!” Tôi được trải nghiệm với anh về con sông Hồng. Vậy là mỗi đoạn sông Hồng lại có một tên riêng. Nó như những giai điệu góp làm nên một ca khúc bất tận hát về một dòng sông.
Chất lượng sông Hồng đoạn chảy qua TP Lào Cai
Sông Hồng, từ Bát Xát Lao Cai chảy xuống qua Yên Bái tới Phú Thọ gọi là sông Thao. Từ Phú Thọ chảy qua Bạch Hạc Việt Trì gọi là sông Tam Đái. Qua Mê Linh Nhị Hà là sông Cái sông Con. Chỗ ngã ba sông Đuống lại gọi là sông Dâu. Từ Hà Nội qua Bát Tràng đến Văn Giang Hưng Yên gọi là sông Thiên Mạc. Qua Khoái Châu, cầu Yên Lệnh gọi là sông Nam Xang. Quãng Nam Định gọi là sông Đại Hoàng. Khi tới Giao Thủy gọi là sông Ba Lạc. Và từ đó đổ ra biển gọi là cửa Ba Lạc.
Sông Hồng là sông lớn thứ hai trên bán đảo Đông Dương sau sông Mê Kông Cửu Long, và là con sông tạo thành hệ thống sông ngòi lớn nhất miền Bắc Việt Nam.
Điểm tiếp xúc đầu tiên của sông Hồng với lãnh thổ Việt Nam là xã A Mú Sung huyện Bát Xát tỉnh Lao Cai. Từ đó sông Hồng đi qua bảy tỉnh và đổ ra biển Đông qua mười một cửa sông mà cửa sông chính là cửa Ba Lạt, ranh giới giữa hai tỉnh Nam Định và Thái Bình.
Sông Hồng có lưu lượng bình quân hằng năm rất lớn, tới gần 2.650 mét khối một giây tại cửa sông, với tổng lượng nước chảy qua tới 83,5 tỷ mét khối. Tuy nhiên nước phân bổ không đều. Về mùa khô lưu lượng giảm chỉ còn khoảng 700 mét khối một giây, trong khi vào cao điểm mùa mưa có thể đạt tới 30.000 mét khối một giây.
Lượng phù sa của sông Hồng rất lớn. Trung bình khoảng 100 triệu tấn một năm. Tức là gần 1,5 ki-lô-gam phù sa trong một mét khối nước.
Từ hàng ngàn năm qua, hệ thống sông Hồng đã bồi đắp và nuôi dưỡng phù sa làm nên một vùng châu thổ màu mỡ tốt tươi cho đồng bằng Bắc Bộ. Và cùng với sông Thái Bình đã và vẫn là nguồn thủy lợi quan trọng cho nền nông nghiệp vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Sông Hồng cũng đóng góp một vai trò quan trọng về thuỷ điện cùng giao thông vận tải đường thủy.
“Việt Nam - Trung Hoa núi liền núi sông liền sông”. Câu hát ấy réo rắt một thời. Núi có dãy Hoàng Liên Sơn chạy dài từ dãy Hi-ma-lay-a xuống Thạch Lâm Vân Nam Trung Hoa, qua Lao Cai Mù Cang Chải về Yên Bái, rồi qua Kiện Khê Hà Nam tới xứ Thanh Việt Nam… Còn sông Hồng có tổng chiều dài 1.150 ki-lô-mét bắt nguồn từ núi Nga Sơn Vân Nam Trung Hoa với tên gọi là Mã Long Giang, khi đổ về giáp Việt Nam lại gọi là sông Lê Hoa, có chiều dài 600 ki-lô-mét. Còn sông Hồng nằm trên lãnh thổ Việt Nam từ Lao Cai cho tới cửa Ba Lạt trước khi đổ ra biển Đông có chiều dài 556 ki-lô-mét.
Năm còn học trung học, giờ địa lý, cô giáo chỉ lên bản đồ nói rằng “Các em hãy hình dung xem hệ thống sông ngòi ở đồng bằng Bắc Bộ giống tựa gì?” Rồi cô trả lời luôn “Giống hệ tuần hoàn cơ thể người!” Qủa không sai. Tôi mơ màng hình dung, sông Hồng là động mạch chủ. Các chi lưu của sông Hồng là các động mạch phụ, dẫn “máu” đi nuôi những cánh đồng tốt tươi.
Bây giờ, động mạch chủ sông Hồng bị xơ vữa mà cholesterol là các chất thải rắn. Các chi lưu của sông Hồng cũng xơ vữa. Nước sông Hồng đậm đặc chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt làm tắc nghẽn mạch chảy.
Sông Hồng mùa lũ, đoạn chảy qua Vĩnh Phúc
Cứ xem khúc sông Hồng chảy qua thành phố khắc rõ. Về mùa khô thuyền nan nhỏ của dân chài mắc cạn. Có đoạn lội ra giữa dòng sông nước chỉ cao dưới gối. Mùa nước lên các bãi nổi vẫn nổi trơ trơ dưới chân cầu Long Biên rộng dài như một cái làng nổi. Và dân tình nơi nơi đổ về định cư kiếm sống không phải là trồng cấy mà là thu gom phế liệu đồ thải.
Báo Thanh Niên nửa đầu tháng ba năm 2011 đã đăng mỗi ngày một phóng sự điều tra “Nỗi đau sông Hồng”, đọc mà đau tái tê.
Nỗi đau ấy là gì?
Nhóm phóng viên đã có cuộc hành trình dọc sông Hồng bắt đầu từ xã A Mú Sung huyện Bát Xát - nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt. Mắt thấy tai nghe ghi hình và phỏng vấn những người có chuyên môn và trách nhiệm. Ngay ở đoạn khởi đầu này nước sông cạn kiệt trơ lòng toàn cát, sỏi và đá. Chỗ có nước thì chỉ như vũng nhỏ. Váng nước đỏ quạch bất thường, nhiều chỗ sủi bọt bùng nhùng, mùi hôi thối xộc lên mũi. Xem những bức ảnh phóng viên chụp, Tiến sĩ Nguyễn Đình Hòe, Trưởng ban phản biện xã hội Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam nhận định: “Màu nước này nhiều khả năng chịu ảnh hưởng của việc xả thải từ hoạt động khai khoáng phía thượng nguồn, và không loại trừ các yếu tố gây độc”. Còn theo phản ánh của nhiều người dân, thì trên thượng nguồn sông Hồng cách A Mú Sung không quá xa, bên Trung Quốc, có một nhà máy chế biến sắn quy mô lớn. Ông Mai Đình Định, Phó giám đốc Sở Tài nguyên - Môi trường Lao Cai xác nhận thông tin này bởi chính ông đã tới thăm nhà máy ấy một lần.
Nỗi đau sông Hồng không chỉ là bốc mùi hôi thối mà còn là khô cạn nguồn nước. Dòng sông bị thu hẹp. Không còn vóc dáng của một “Dòng sông mẹ”, yếu ớt đến buồn lòng. Đoạn sông Hồng từ A Mú Sung về thành phố Lao Cai dài khoảng 70 ki-lô-mét, có hàng chục ki-lô-mét sông chảy dọc biên giới, nước cạn kiệt không thể lưu thông bằng thuyền. Nhiều đoạn trơ đáy, sỏi đá phơi mình. Chỗ còn nước thì nhỏ như con suối. Cứ đà này nước sông Hồng đâu còn mang phù sa về bồi đắp cho châu thổ sông Hồng rộng lớn bao la. Nước đâu để tưới mát những cánh đồng khô cằn, nứt nẻ dưới hạ du. Thì đã xảy ra rồi đó. Mùa khô qua Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã phải xả tới 3,3 tỷ mét khối nước từ các hồ thủy điện Thác Bà, Hòa Bình để nâng cao mức nước sông Hồng tại Hà Nội lên trên 2,2 mét cho nông dân lấy nước làm vụ đông - xuân. Mà cũng đâu phải lần đầu, liên tiếp mấy năm liền hồ thủy điện phải “giải cứu” khi mực nước sông Hồng tại Hà Nội chỉ còn một gang tay.
Nỗi đau sông Hồng còn từ chính những nhà máy Việt mình hủy hoại dòng sông. Trong khi các cơ quan hữu quan ở tỉnh Yên Bái chưa có kết luận cụ thể nào khiến sông Hồng chảy qua địa phận tỉnh bị ô nhiễm chì và cadini ở mức độ nghiêm trọng, thì tại Phú Thọ, tình hình đáng báo động hơn. Nước thải từ Công ty cổ phần giấy Lửa Việt xả thẳng ra sông Hồng có thông số chất rắn lơ lửng vượt 1,15 lần cho phép. Nước thải của Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao cũng có nồng độ chất rắn lơ lửng vượt 1,16 lần. Và ở hạ lưu thì nước thải từ Công ty Dệt Vĩnh Phúc xả ra sông lại có nồng độ chất rắn lơ lửng vượt tới 3,58 lần. Ngang khúc sông Hồng chảy qua thành phố Việt Trì, Công ty Pangrim Neotex cũng xả thẳng nước bẩn ra sông Hồng…
Nỗi đau sông Hồng còn ở con người chưa chịu chuyển biến nhận thức. Đâu phải đợi đến khi nước sông Hồng đổi màu. Mà từ nhiều năm trước đã được cảnh báo sự ô nhiễm của dòng sông này từ các nhà khoa học thủy lợi và môi trường.
Kè tạm bảo vệ nhà dân ven sông Hồng
Năm 2005, Viện Quy hoạch Thủy lợi đã xây dựng mạng giám sát nguồn nước sông Hồng. Theo đó giám sát 6 con sông chảy từ Trung Quốc vào Việt Nam tại các vị trí tương ứng. Sông Đà tại Mường Tè (Lai Châu). Sông Nậm Na tại cửa khẩu Ma Lùng Thàng (Phong Thổ - Lai Châu). Sông Hồng tại hạ lưu cầu Cốc Lếu (Lao Cai). Sông Lô tại cầu treo Ba Hán (Vị Xuyên - Hà Giang). Sông Nho Quế tại cầu Tràng Hương (Mèo Vạc - Hà Giang). Sông Gâm tại thị trấn Bảo Lạc (Cao Bằng). Khảo sát vào mùa kiệt để xác định chất lượng nước.
Bên quốc gia đầu nguồn dự trữ nước để chạy nhà máy thủy điện làm sông cạn. Ta cũng dự trữ nước vào hồ chạy nhà máy thủy điện làm nước sông Hồng cạn thêm. Nước đã cạn, các nhà máy, các khu công nghiệp lại xả thải nước chưa được xử lý ra thẳng sông, nước không đủ nhiều để hòa loãng chất độc hại. Ngày xưa, nước sông Hồng mùa cạn vẫn cao lưng chừng đê. Nhà máy chưa nhiều như bây giờ. Nếu có độc cũng bị nước hòa loãng nhìn mắt thường không thấy có màu. Con số 60% lượng nước mặn của Việt Nam chảy từ nước ngoài. Trong đó 50% lượng nước sông Hồng chảy từ ngoài lãnh thổ. Nó cho ta nhiều quan ngại về an ninh nguồn nước. Từ đó thách thức tới an ninh lương thực.
Ông cha ta ngày xưa có câu châm ngôn “Sống chết mặc bay tiền thày bỏ túi” tới giờ vẫn đúng và càng đúng. Một phường bát âm mà không có nhạc trưởng thì khỏe ai người ấy tấu bất cần nghĩ tới ai.
Trên con sông Hồng theo các nhà khảo sát thủy sản năm 2010, thì đang có 104 loài cá cư trú. Tác động của ô nhiễm môi trường làm thay đổi hệ sinh thái khu vực thượng lưu cùng hạ lưu, ảnh hưởng tới các loài cá sống ở các khu vực nước lợ và cá di cư. Một số loài cá có khả năng bị tổn thương ở cấp độ nguy cấp như cá mòi cờ hoa, cá cháy, cá lăng, cá lăng chấm, cá chày trắng, cá lăng chiên… Đặc biệt là hai loài cá được xếp hạng nguy cấp trong sách đỏ Việt Nam là cá mòi cờ và cá cháy.
Trong giai thoại làng thơ, có chuyện một chàng thơ trẻ, có lẽ là ngồi bên người yêu trên triền đê sông Hồng mượt êm cỏ non xanh, đã xúc động nghĩ ra cái tứ “phạm trù cặp đôi” nên làm câu thơ:
“Trời sinh voi nên trời sinh cỏ
“Trời trót sinh anh nên đã sinh em
Đọc, nhà thơ Xuân Diệu phê: “Voi thì ăn cỏ. Sao anh lại có thể ăn em?”
Xin hãy bắt tay bảo vệ sông Hồng ngay từ bây giờ, e rằng trong tương lai nước ít đi, chất lượng nước suy giảm, thì cỏ cũng chẳng có cho voi ăn chứ nói chi tới cá cho người.
3 - 2011Bút ký của Khiếu Quang Bảo

