cua cấp đông có ngon không?lời 0đ vẫn bán, nhà hàng làm sao có lãicua cấp đông HACCP
Xuất bản ngày 13/10/2011 01:43 AM

Tình yêu đi cùng năm tháng

Buổi sáng ở khu tập thể Nghĩa Tân khá yên ả. Một ông lão 85 tuổi ngồi trầm tư, thanh thản, chậm rãi kể những câu chuyện xưa cũ...

Buổi sáng ở khu tập thể Nghĩa Tân khá yên ả. Tiếng trẻ bi bô tập nói thỉnh thoảng cất lên chen lẫn với tiếng nựng nịu của bà mẹ trẻ. Trong căn hộ nhỏ một cụ bà vừa trải qua cơn tai biến đang thằm thiếp đi trên giường. Chồng bà, một ông lão 85 tuổi ngồi trầm tư, thanh thản, chậm rãi kể những câu chuyện xưa cũ bằng một trí nhớ tươi mới như thể mọi thứ mới vừa xảy ra ngày hôm qua.

Tình yêu thời chiến

Trong căn phòng dùng để tiếp khách, nhiều bức ảnh cụ ông chụp cùng đại tướng Võ Nguyên Giáp, cụ bà chụp cùng bác Hồ được treo trang trọng. Bàn tay ông run run đẩy cuốn sách được photo lại về phía chúng tôi. Bìa sách ghi: “Còn lại với thời gian”. Cuốn sách đó tập hợp những bài viết trên nhiều tờ báo khác nhau như Nhân dân, Lao động, Người Hà Nội… về ông, bà - lớp chiến sỹ đầu tiên của Liên khu 1 Trung đoàn thủ đô. Đó là câu chuyện của hai người, vừa là đồng chí vừa là bạn đời. Họ đã cùng nhau trải qua bao thăng trầm của lịch sử, chứng kiến những biến động đau thương mà anh hùng của đất nước suốt từ thuở cướp chính quyền những ngày tháng 8-1945, những năm tháng nếm mật nằm gai để làm nên một Điện Biên lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu. Và hết chiến tranh, họ vẫn tiếp tục cái tinh thần thép ấy để đối mặt với những đau thương, mất mát của thời bình.

Giọng run run nhưng rành mạch rõ ràng, người đàn ông kể chúng tôi nghe về những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Ngày đó, 18 tuổi, anh công nhân gốc Hà Đông Trần Chất tham gia trong đoàn Công nhân cứu quốc của Mặt trận Việt Minh. Những ngày tháng 8 -1945, anh có mặt trong đoàn người chiếm trại Bảo An Binh, và là một trong những người đầu tiên chứng kiến thời khắc lịch sử của dân tộc ngày 2-9 ngay giữa quảng trường Ba Đình. Được giao nhiệm vụ giữ an ninh trật tự, nhưng lúc đó người chiến sỹ mới làm quen với cây súng vẫn nghe rõ từng lời Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, và cả tiếng Bác hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không”. “Lúc ấy không có nhiều loa, thế mà cảm giác nghe rõ thế”, người lính già nhớ lại sau 66 năm. Mùa đông Hà Nội năm 1946, anh lính Trần Chất chính thức bước vào chiến tranh, chiến đấutrong đội hình Liên khu 1, “cảm tử cho tổ quốc quyết sinh” suốt 60 ngày đêm. Tiểu đội khi đó gồm hơn 30 đồng chí- những thành viên đầu tiên của Trung đoàn thủ đô - bám trụ con phố Bắc Ninh (nay là phố Nguyễn Hữu Huân), chặn địch từ cầu Long Biên.

Bà Lê Kim Hạnh lúc bấy giờ là y tá của nhà thương Đồn Thủy (bệnh viện 108 bây giờ), cũng có mặt trên mặt trận Lò Sũ. Khi ấy, mới 20 tuổi nhưng người con gái Hà Thành nền nã, hiền hậu đã nổi tiếng gan dạ, bản lĩnh. Thân con gái chân yếu tay mềm nhưng đã dám một mình đăng ký vào đội thanh niên xung phong đầu tiên do TƯ Đoàn thành lập và trở thành người phụ nữ duy nhất trong đội thanh niên xung phong hơn 200 người, toàn đàn ông. Hai ông bà ở ngay gần nhau mà chưa hề một lần gặp mặt.

Mải chiến đấu không để ý đến việc riêng, mãi về sau được người mai mối, ông Chất mới tìm đến gặp bà Hạnh. Để gặp được nhau, ông phải đi về hết ba bận. Lần đầu hẹn vào một ngày chủ nhật, đến nơi thì bà Hạnh được cơ quan cử đi xem xiếc không có mặt. Lần lữa đến buổi hẹn thứ hai, thì người làm mối lại nhận lệnh công tác Lào Cai. Ông Chất nghĩ mình chưa biết người ta, hẹn hò thế nào đây khi không có người giới thiệu. Ông đánh liều viết một bức thư. Bà trả lời đồng ý gặp. Vậy là thành đôi. Đám cưới giản dị diễn ra sau đó gần một năm. Và gia đình cô gái, vốn lễ giáo thành thị đã thể tất cho sự vắng mặt của gia đình chú rể vì bố ông đã mất, cả nhà đã trở về quê, ở Hà Nội chẳng còn ai. Bố cô dâu còn đặt mấy mâm cỗ mời người quen chú rể đến, hồ hởi vì có rể chững chạc, chẳng băn khoăn gì tới thủ tục rườm rà.

Họ thành vợ chồng với món quà cưới là một phiếu nghỉ một tuần tại khách sạn Phú Gia từ một người bạn. Nhắc lại, vị đại tá già vẫn tủm tỉm, hồi bé theo bố đi làm thuê ở đây, ai ngờ có ngày mình là khách ở cái nơi này. Thế là tuần trăng mật sang trọng của ông bà được ở trên tầng hai khách sạn sang nhất Hà Nội khi đó, nơi trông thẳng ra Tháp Rùa. Lúc ấy ở đơn vị cũng chuẩn bị sẵn phòng tân hôn cho đôi tân lang, tân nương mới mà đến lúc chạy đi tìm mỏi mắt mà chẳng thấy họ đâu.

Lấy nhau rồi hai vợ chồng ông bà vẫn nhiệm vụ ai người đấy làm. Vừa là bạn đời, vừa là đồng chí, ông bà cùng nhau sát cánh chiến đấu và cùng nhau nuôi dưỡng gia đình bé nhỏ trong thời loạn lạc.

Đau đớn nào rồi cũng sẽ qua đi

Những năm tháng chiến tranh đi qua để lại trên người ông bà không ít vết thương cả về tâm lý và thể xác, có những vết thương giờ khi trái nắng trở trời vẫn quay lại hành hạ. Nhưng đến khi cuộc sống đã im tiếng bom đạn, cuộc sống tưởng chừng đã bình yên thì số phận đã dội vào gia đình người hai cựu chiến binh ấy những trái bom với sức tàn phá còn khủng khiếp hơn nhiều.

Lấy nhau rồi, bà vẫn là người không chịu ở yên, vẫn tích cực với mọi hoạt động. Ông trầm tính hơn, nhưng ủng hộ bà tuyệt đối. Ông bà có ba người con, hai trai một gái. Cả hai thuê một căn phòng nhỏ ở Hàng Cót. Chẳng ngờ một ngày, cậu con trai út đi học về ra hồ gần sông Hồng bơi với chúng bạn và bị chết đuối. Khi đó ông vẫn đang ở đơn vị. Được tin con bà Hạnh chạy đến thì đã quá muộn. Cô con gái thứ hai của ông bà lúc đó đang ôn thi đại học, lần đầu tiên nhìn thấy người chết liền ngất xỉu. Khi tỉnh dậy thì phát điên, suốt nhiều năm trời cứ tìm cách lao đầu vào ô tô. Có bận cô nằm giữa đường xe lửa lúc tàu hỏa đang chuẩn bị tới, may mắn tàu đang đi chậm, người ta đưa cô ra kịp. Thế là gần 10 năm, cả hai rong ruổi khắp các bệnh viện chữa bệnh cho con. Một tay chăm con, một tay bươn chải, áp lực lớn đến mức cả hai vợ chồng phải xin nghỉ hưu sớm. Ông thì bị tiền đình, lại thêm vết thương cũ tái phát. Giữa những năm tháng cả đất nước khó khăn, thêm đứa con gái bệnh tật, nhà không buôn bán gì, lương hưu hai vợ chồng vun vén lắm mới đủ. Nhưng đứa con ấy cũng không ở lâu với ông bà, gần 10 năm sau khi em trai mất, cô cũng bỏ ông bà đi.

Suốt những năm tháng chiến tranh, ông cứ nghĩ mình đã được tôi rèn đến mức không thể có gì làm mình gục ngã. Ngày ngày đối diện với súng đạn, cái chết cận kề, căng thẳng có, áp lực có nhưng chưa khi nào ông sợ. Đồng đội mỗi lần ngồi với nhau vẫn dặn, đừng để sự nhút nhát, dao động ảnh hưởng đến chiến đấu, không còn mặt mũi nào nhìn anh em. Động lực giản đơn ấy đã giúp người lính đứng vững qua những thử thách. Có cả những nỗi đau tím ruột gan khi chứng kiến đồng đội mình, trong trận chiến ác liệt trên đồi A1 những ngày cuối cùng ở Điện Biên Phủ năm 1954, đã hy sinh ngay bên cạnh mình. Ngày thủ đô giải phóng, ông cũng không thể nào tìm lại nhà bạn để báo tin, như lời dặn dò của bạn trước khi nhắm mắt. Có cả nỗi nhớ nhà cồn cào, khi suốt chín năm không hề có một dòng tin. Có cả những áp lực vô hình, khi được giao những trọng trách lớn lao. Và những nỗi đau thời bình có kém gì đâu. Nó khiến ông bà tưởng như không vượt qua nổi. “Nếu là người khác, chắc bà ấy đã phát điên”, ông Chất xót xa cho vợ, cho mình.

Họ tựa vào nhau và vượt qua hết những khốn khó ấy. Bà cá tính có tiếng, quyết đoán có tiếng, ông là lính, kỷ luật thép là thế, mà 50 năm qua chưa bao giờ họ nói nặng với nhau một câu. Cách đây hơn 10 năm, bà bị tai biến mạch máu não, gần như phải nằm một chỗ, giao tiếp khó khăn. Ông vẫn cần mẫn chăm sóc bà. Họ đón ý nhau qua ánh mắt cử chỉ. Bà mấp máy môi ông biết bà cần gì. Ông giữ tất cả những tấm ảnh của bà, ghi chép cẩn thận mỗi dấu mốc của bà, “Bà ấy ngày xưa kiên cường lắm, bản lĩnh lắm”. Bà nằm một chỗ, đầu giường ông treo tấm ảnh thời bà đi thanh niên xung phong, ngày 20 tuổi rạng ngời đầy cá tính. Giờ đầu bà đã bạc nhưng những vết nhăn trên gương mặt vẫn không dấu được sự sắc sảo năm nào.

Ông bà giờ sống cùng gia đình cậu con trai cả, cũng đã từng là một người lính Sư đoàn 308 - Trung đoàn Thủ đô ngày nào. Người ta vẫn thấy ông trong các cuộc gặp cựu chiến binh, đi thăm lại chiến trường xưa. Bến Bình Ca giờ dựng cả tượng đài ghi lại chiến thắng năm nào. Vẫn thấy ông đẩy xe đưa bà đi dạo quanh khu tập thể. Cuộc sống yên ổn và giản đơn như chưa từng có nỗi đau. Thi thoảng ông vẫn nhắc, người anh ruột của bà, hy sinh từ những ngày đầu chống Pháp, mộ vẫn nằm ở chiến khu chưa tìm lại được. Bà yếu, ông vẫn đau đáu hộ bà những điều ấy.

Sóng gió thường được vượt qua bởi những tình yêu giản dị như thế.

-Đại tá Trần Chất, Nguyên Đại đội trưởng Đại đội 265 (Tiểu đoàn 18, Trung đoàn Thủ Đô). Tiểu đội trưởng tiểu đoàn Bình Ca anh hùng, chỉ huy khẩu đội Bazoka (Cục Quân giới sản xuất) lần đầu tiên bắn chìm tàu Pháp trên sông Lô tháng 10- 1947. Tham gia trực tiếp trận đánh đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 3-1954.

-Bà Lê Kim Hạnh, Học viên lớp y tá đầu tiên của Bệnh viện 108. Trưởng đoàn của đoàn đầu tiên đi vận động nhân dân ủng hộ thương binh, liệt sỹ Phòng thương binh quân đội (Tiền thân Bộ LĐTBXH ngày nay). Nữ y tá TNXP đầu tiên của đội TNXP Việt Nam.

Tuấn Minh

Ảnh: Hồ Quang

Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn