fingerfood tốt cho nhà hàngmón độc lạ cho nhà hàngmón lời 0đ của nhà hàng
Xuất bản ngày 15/09/2011 04:39 AM

Người hồi sinh đại ngàn Đông Hồi

Suốt nhiều thế kỷ, xã Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu như ốc đảo kẹt giữa một bên thảm rừng nguyên sinh ngút ngàn.

Suốt nhiều thế kỷ, xã Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu như ốc đảo kẹt giữa một bên thảm rừng nguyên sinh ngút ngàn, một bên biển cả thành bản tấu nhạc ngân nga truyền đời.

Vùng Đông Hồi quê ông nổi tiếng sơn thuỷ hữu tình là vậy, song từ sau 1954, nhất là từ 1960 lại nay, “bức tranh thuỷ mặc” ấy đã như chim công bị vặt trụi lông không hơn không kém.

Cảng Nghi Sơn nhìn từ Đông Hồi. Ảnh: G.H

Tìm lại ký ức

Quỳnh Lập nguyên là xã ốc đảo, ba bề là trùng điệp núi đồi, bề còn lại mênh mông biển cả, mãi sau mở tuyến độc đạo về phía tây, người dân mới được băng núi trèo đèo, cuốc bộ nửa ngày để ra tới “đường quan” - tức là QL1A. Cũng từ bấy, Quỳnh Lập có cơ hội thông thương hòa nhập với “thế giới bên ngoài”. Rối tuyến độc đạo cho người đi bộ được rải đá thảm nhựa, mãi đến năm 2009 thì nó được Cty 36 Bộ Quốc phòng mở rộng nâng cấp thành đại lộ Hoàng Mai - Đông Hồi. Nhớ hôm khánh thành đưa đại lộ vào sử dụng, ông nhà văn quê gốc Nghệ từ Hà Nội vào rỉ tai tôi: Chúng mình cứ gọi tuyến này là “đường trong mơ” cũng không quá lời.

Đúng là con đường trong mơ! Giờ đây các nam thanh nữ tú Quỳnh Lập chỉ hết chục phút xe máy đã có mặt càphê cà pháo nơi đô hội phố phường. Lại nhớ tuổi trường làng, cậu bé Lê Duy Nguyên từng rợp mát giữa thảm rừng nguyên sinh Đông Hồi, vậy mà khi trở thành công chức, mỗi lần về quê anh đau đáu với thảm trạng chỉ trong vòng mấy chục năm, cái giống người tham-sân-si ấy đã trấn lột sạch sành sanh của “nàng tiên” Đông Hồi bộ xiêm y tuyệt mỹ.

Phải phục hồi giá trị sinh thái vốn có ở quê hương. Nghĩ là làm, sau gần 30 năm công chức ăn lương tại các trường đại học Vinh, bổ túc văn hoá trung ương, THPT chuyên Phan Bội Châu, đến năm 1993, Nhà nước chủ trương cho tập thể, cá nhân thuê đất trồng rừng, công chức Lê Duy Nguyên xin nghỉ hưu ở tuổi 46 để tập trung thực hiện kỳ được ước nguyện tái lập màu xanh trên vùng đất cố hương. Từ công chức của lĩnh vực “trồng người”, anh thành “tướng” trồng rừng đầu tiên của xứ Nghệ chỉ vì ước mơ dung dị ấy. Rồi từ thợ trồng rừng đích thực, thiết thực, hiệu quả, anh được cử tri Nghệ An bầu làm đại biểu Quốc hội khoá X.

Vùng Đông Hồi quê anh lọt giữa điệp trùng đồi núi phía bắc, phía tây và bao la biển phía Đông. Với vị trí thiên định ấy, xưa nay Đông Hồi là chiếc then cài khổng lồ đóng mở cánh cổng phía bắc của huyện Quỳnh Lưu, đồng thời tạo nên bức thành bằng đá ngăn chặn các đạo quân xâm lăng phương bắc tràn vào xứ Nghệ. Suốt 700-800 năm dưới các triều đại, bao lần điều chỉnh địa lý hành chính bấy lần thay tên đổi họ, đến thế hệ anh vẫn nhận ra vị trí các xóm Đồng Thanh, Đồng Minh, Tân Minh của xã Quỳnh Lập ngày nay là trung tâm của làng Đông Hồi xa xưa.

Về tên gọi làng Đông Hồi, anh bảo lớn lên đã được nghe kể: Đầu thế kỷ 15 đất này mang tên làng Bát Lại, xã Hương Cần. Năm 1470, Vua Lê Thánh Tông đích thân mang thuỷ binh vào nam dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu. Trên đường nam chinh, đoàn thuyền vào cửa Cờn dừng nghỉ lại để vua lên đền Cờn lễ viếng Tứ vị Thánh nương.

Chiến thắng trở về, vua và đoàn quân thẳng ra Thăng Long - Đông Đô, không vào lại cửa Cờn. Khi đoàn thuyền tới cửa Biện (Thanh Hoá) thì gặp gió đông bắc nổi lên, vua tôi đành phải quay lại cửa Cờn trú ẩn. Ngẫm việc không thuận buồm xuôi gió là đấng cao xanh nhắc nhở đoàn quân phải vào tri ân thần đền Cờn. Minh vương Lê Thánh Tông là người “tri thiên tri địa”, ông hạ lệnh sắm sanh phẩm trật, sai người khắc tượng, dựng thêm một toà tại khu đền, gia phong sắc “Đại Càn Thánh nương Quốc gia Nam Hải Tứ vị thượng đẳng thần”. Chỗ thuyền quay lại về sau gọi là Hồi Chân hay Đông Hồi và làng Bát Lại cũng đổi thành làng Đông Hồi từ ngày ấy.

Ước mơ và hiện thực

Nhớ 18 năm trước, các trợ thủ cùng anh cơm nắm nước lọ, mất nhiều ngày nhiều tháng đội trời đạp đất, hoạch định số đo để cắt may “áo xanh” cho ngần ấy diện tích trống trọc. Sau 18 năm với tâm huyết, trí tuệ, mồ hôi công sức của anh và của tập thể CBCNVLĐ Cty trồng rừng, tấm áo ấy đã được tái sinh.

Dù nó chưa đủ độ dày nhưng đã kịp phủ khắp 1.008ha gồm hai hệ rừng: Rừng nguyên sinh phòng hộ hơn 400ha, rừng sản xuất nguyên liệu 600ha. Trong hệ rừng nguyên sinh phòng hộ có tới 400ha trồng lim. Dành tới 600ha trồng keo, bạch đàn v.v... rừng sản xuất nguyên liệu ngắn hạn, là bài toán ra đáp số lấy ngắn nuôi dài, từ đó Cty dùng ngắn đầu tư làm mới gần 20 cây số đường thảm đá dọc ngang trong rừng. Lại còn lợi dụng địa thế núi đồi, dám thuê cơ giới san đồi ngăn đập, xây hai hồ chứa nước lên tới hàng triệu khối.

Anh bảo làm đường vừa để ôtô chở nhân công, vật liệu ra vào dễ dàng, vừa tạo đường băng cản lửa phòng chống cháy. Trồng rừng phải trữ nước, bởi nước là “máu” của cây xanh phủ kín 1.008ha rừng trồng, nước còn để chống cháy, còn để cho các loài tắc kè, gà rừng, khỉ, sơn dương... thuộc “động vật quý hiếm”, nhưng anh vẫn liều bỏ ra hàng chục triệu đồng gom mua của cánh thợ săn trong vùng, mua xong thả chúng vào rừng để phong phú đa dạng sinh học cho đại ngàn quê hương đã hồi sinh, vừa để phát huy sức mạnh của thượng đế (người mua) nhằm ngăn không cho “săn tặc” mang quý hiếm đến các nhà hàng để thành... đặc sản.

Đang gây nuôi muông thú giữa đại ngàn tươi tốt, anh quy hoạch xen trồng một số loài cây cho quả dại, toàn là những thứ quả chỉ dành cho các loài muông thú mà thôi, với giống người “miệng ăn núi lở” thì chỉ nhìn mà khóc vì không ăn nổi.

Ước mơ lớn nhất của anh? Phải hồi sinh bằng được thảm rừng Đông Hồi với những cây lim, cây chò từng rợp bóng suốt nhiều thế kỷ. Hồi sinh những cổ thụ mà mấy đứa bạn làng cùng tuổi nổi tiếng nghịch ngợm ngày ấy, nhiều lần chúng kết vòng tay ôm mà vẫn không xuể. Phải hồi sinh rừng thì mới có chỗ để hồi sinh những đàn bò rừng nhởn nhơ gặm cỏ, những hươu nai hiền từ tha thẩn, những hổ mẹ dẫn hổ con tìm mồi, hồi sinh cho bao loài thú hoang dã từng gần gũi thân thiện với các thế hệ tiền nhân Đông Hồi.

Tự mình khởi xướng rồi tự mình về quê vận động bạn bè thân hữu cùng chí hướng, suốt 18 năm ròng cùng “nếm mật nằm gai” trên bạt ngàn trống trọc, giờ màu xanh đã ngút ngát phủ khắp 1.008ha núi đồi Đông Hồi. Miên man giữa công trình để đời đầy tâm huyết của anh, tôi càng ngỡ ngàng sau khi nghe những bài thơ, những ca khúc do ông chủ trồng rừng Lê Duy Nguyên sáng tác, được các ca sĩ tên tuổi thể hiện ghi vào đĩa vào băng. Thì ra trước khi thành “tướng” trồng rừng, công chức sinh năm Đinh Hợi (1947), quê làng Đông Hồi này từng rong ruổi ươm trồng... thơ ca, từng miệt mài trên cánh đồng bát ngát mộng mơ.

Ông Lê Duy Nguyên tham gia Hội nghị doanh nghiệp toàn quốc tại Cửa Lò, tháng 8.2011.

Chỉ người ươm tứ trồng ra nhiều chục bài thơ, trồng nên vài chục ca khúc như anh mới có thể giúp tôi nhìn ra cái sự lạ đang bám riết lấy xã Quỳnh Lập. Anh bảo Quỳnh Lập không ruộng, đương nhiên không thuộc xã lúa và nhắc đến Quỳnh Lập đương nhiên nhắc đến “thương hiệu” trại điều trị bệnh phong nổi tiếng toàn miền Bắc. Nhưng một Quỳnh Lập bạt ngàn đồi núi mà không là xã miền núi, một Quỳnh Lập trải mấy cây số bãi biển mà không là xã biển thì thật oái oăm! Vậy nên cứ gọi Quỳnh Lập là “xã lưỡng tính” thì cũng khó bắt bẻ nổi.

Tôi xe máy dạo khắp rừng và nhẩm tính: Trên 400ha lim với mật độ trồng đúng quy chuẩn, nhanh cũng mất 80 năm nữa ngần ấy lim mới cho thu hoạch, bấy giờ anh sẽ thu về ít nhất cũng 6.000 tỉ đồng theo thời giá hiện nay. Nhưng mà anh đã 66 tuổi, gái út con anh cũng 25 tuổi rồi, việc anh “phục chế” rừng lim hoàn toàn không vì kinh tế gia đình như tôi nghĩ. Điều này càng được khẳng định rõ hơn khi tôi ở lại Cty gặp trận mưa to, khu nhà trạm xá xã Quỳnh Lập anh mua lại làm trụ sở Cty, cũng như ngôi nhà mái bằng hiện vợ chồng anh đang ở tại TP.Vinh, hễ mưa to lại phải mang xô, chậu để hứng nước trút xuống nền nhà.

Biết anh kiệm lời trong chuyện làm ăn, tôi la cà với mấy trợ thủ của anh và được họ “bật mí”: Ông Nguyên quyết tâm như Nữ Oa vá trời, ông đang làm bằng được công trình cuộc đời để tri ân quê hương Đông Hồi. Ước nguyện lớn nhất của ông ấy là tái hiện cho quê hương bức tranh hữu tình - bức tranh thuỷ mặc dưới biển trên rừng, muông thú chung sống thân thiện với con người. Bức tranh ấy đã in đậm trong tâm tưởng ông, nó hoá thạch cùng với tuổi trường làng hơn năm mươi năm trước. Ông Nguyên quyết thắng trời chỉ vì mục đích như vậy. Với ý chí sắt đá, dù ban đầu tiềm lực tài chính hầu như là tay không bắt giặc, ông đang hồi sinh môi trường sống thân thiện cho một phần đại ngàn Đông Hồi.

Tạm gác cái công trình để đời với la liệt số liệu chủng loại cây đã thành rừng, những khoản tiền phải vay đầu tư, những khoản tiền thu về, những khoản tiền dành trả lương cho đội ngũ lao động trồng rừng suốt 18 năm qua, tôi chuyển hướng câu chuyện vào “đại ngàn trắc ẩn”:

- Năm ngoái có tờ báo đăng bài viết “Ông Nguyên chiếm đoạt rừng của người khác, chiếm đoạt tiền đền bù...”(???).

- Có một bài báo như thế. Khi mới đọc bài báo này tôi rất giận, nhưng sau lại cảm khái mà viết nên bài hát, lời ca từ như sau: Đời doanh nhân biết bao khó khăn/ Bao nắng mưa, nắng mưa đong đầy/ Vượt xa khơi vẫn vững tay chèo/ Gặp phong ba quyết không buông chèo...

- Mang danh người để vu oan người khác, thời nào và ở đâu cũng có. Tôi nghĩ, anh sống không bằng lời khen thì cũng không thể chết vì một bài báo một chiều.

- Tôi nghe người ta nói: Sự thật vẫn là sự thật. Chân lý luôn thuộc về lẽ phải. Và tôi luôn tin như thế.

Theo: Báo Lao động

Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn