Ninh Hồ dễ lấy được lòng tin và thiện cảm của người đối diện ngay từ lần đầu gặp mặt bởi sự hồn nhiên và dễ gần. Dáng người thấp đậm, nụ cười khơ khơ, cộng với cái bụng đang có chiều hướng “vượt mặt” khiến cho “lão thơ” ấy trông lại cứ lành lành… Nói chuyện, thấy lão cũng dễ thương lắm!
“Cảm hứng đôi khi chỉ như que diêm“
Cứ mỗi buổi chiều, ông chủ quán trà đá ngay sát cổng Hội Nhà văn Việt Nam lại lẳng lặng cất riêng cái ghế cho một vị khách đặc biệt- ông Hồ nhà thơ. Đúng 2h chiều, chiếc xe máy cà tàng lạch bạch phi qua cổng, đỗ xịch dưới bóng cây, chủ nhân của nó- nhỏ con nhưng đậm người vớ lấy cái cặp táp rồi đủng đỉnh rảo bước ra hàng trà đá như một quy luật của mọi buổi chiều.
Cũng như rất nhiều người yêu thắm thiết công việc của mình, Ninh Hồ yêu luôn cái “góc sân và khoảng trời” nơi số 9 Nguyễn Đình Chiểu này. Đây như ngôi nhà thứ hai của lão. Và quán trà đá trước cổng như là nơi để lão hun đúc, tích cóp bao cảm xúc buồn vui để gửi gắm cho nàng thơ.
Hẹn gặp tôi, có lẽ để giữ phép lịch sự, Ninh Hồ không tiếp ở quán trà đá mà mời hẳn lên văn phòng ngồi uống… trà sen. Góc làm việc của lão nhà thơ trông cũng “thơ” lắm. Cái bàn ú ụ tài liệu chữ nghĩa nép mình bên khung cửa sổ đầy nắng và gió. Ở góc bậu cửa được điểm xuyết bằng một bình hoa… giả màu tím (thật ra, nếu đứng ở xa, nhiều người vẫn tưởng hoa thật!). Lão xoắn xuýt kê lại bình hoa cho khéo rồi bảo tôi: “Đấy, tí nữa, tớ đứng ở đây cho cậu chụp ảnh!”...
Nói đến thơ Ninh Hồ, người ta khó thuộc nằm lòng bài thơ nào, mà họ chỉ biết đến như một tổng thể các bài thơ rất có duyên. Lão bảo, cũng đau khổ lắm chứ! Thấy người ta đọc xuôi, rồi đọc ngược Truyện Kiều dài đến 3254 câu thơ của cụ Nguyễn Du; lại thấy người ta ngân nga hết bài này sang bài khác của bác Nguyễn Bính; người ta véo von hát bài kia sang bài nọ của một số nhà thơ được phổ nhạc… thì lại càng sốt ruột. Nhưng biết làm sao được. “Có lẽ cái tạng của mình chỉ được vào hạng thoang thoảng nhớ!”- lão chẹp miệng và cười khơ khơ. Rồi đành tự an ủi theo lối hơi ngụy biện một chút, ví như một anh yêu say đắm một nàng và rất đau khổ khi không nhớ được mặt người yêu, chỉ bởi lẽ “thấy em như thấy mặt trời/ chói chang khó ngó trao lời khó trao”.
Thôi thì không làm người ta thuộc thì gắng mà làm người ta nhớ. Nhớ tứ, nhớ tình, nhớ cái ý tưởng đặc sắc.
Cứ bình quân, 5 năm được một tập, tới nay, lão đã có gần chục tập thơ. Cũng không đếm có bao nhiêu bài, vì với văn chương, con số có lẽ không nói được gì nhiều. “Cơ hội tạo ra cảm hứng chỉ ngắn như một que diêm. Nhà thơ phải là người nắm bắt được khoảnh khắc lóe sáng đó, chuẩn bị đèn bấc để kéo dài thứ ánh sáng đó”- lão gật gù- “Nhìn thế chứ làm văn làm thơ cũng phải có mánh. Mỗi người có một cách riêng. Nhiều người có thói quen gặp gì cũng ghi ghi chép chép. Tớ thì khác. Cái gì cần nhớ ắt sẽ nhớ, không cần nhớ sẽ quên”... Hóa ra, thơ Ninh Hồ từ trước đến nay vẫn được làm ra từ những phút nhớ nhớ quên quên ấy!
Và phải chăng cũng do cái sự luôn “nhớ nhớ quên quên” ấy, thỉnh thoảng gã thơ ấy lại giật mình tỉnh giấc giữa đêm khuya: “Tôi thường có nhiều đêm choàng tỉnh/ Mà không sao hiểu được vì sao/ Mắt ráo hoảnh như chưa từng ngủ/ Không bâng khuâng, không chút cồn cào/ Cũng không có câu thơ nào đến cả/ Những câu thơ từng ước vọng động trời/ Chẳng có lẽ vô cùng tĩnh lặng/ Và êm đềm đã đánh thức tôi“
Nếu như thơ của Ninh Hồ có sự sâu sắc, trải nghiệm thì đến với những truyện ngắn lão viết cho thiếu nhi, vẫn là sự giản dị và tính triết lý nhưng được thể hiện dưới những góc nhìn hóm hỉnh, vui tươi. Những tác phẩm của Ninh Hồ luôn toát lên sự hồn nhiên, như chính con người của lão. Mà có lẽ, suy cho cùng, văn học quyến rũ con người cũng ở chính sự hồn nhiên. Những câu thơ hay nhất là những câu thơ giản dị nhất. Những câu chuyện hấp dẫn nhất là những câu chuyện chân thành nhất.
Ninh Hồ luôn quan niệm: Viết văn cho thiếu nhi khó hơn đến mười năm so với việc viết văn cho người lớn. Bởi, trẻ con không phải là người lớn thu nhỏ lại, mà trẻ con là một thế giới hoàn toàn khác. Và lão đã lạc vào thế giới ấy để rồi cho ra đời 3 tập truyện ngắn Những ông tiên râu trắng, Những mảnh vụn trên đời, Chiếc tầu thủy bằng vàng. Ninh Hồ cũng chính là tác giả của 3 truyện rất ngắn được đưa vào SGK gồm: “Vượt bậc” (SGK lớp 2 cũ), “Tấm bản đồ lưu lạc” (SGK lớp 4 mới), “Cuộc họp của chữ viết”(SGK lớp 2).
“Về già, cũng sốc lắm!...“
Chuyện thơ đang say thì Ninh Hồ loạng quạng sang chuyện đời. Lão khoe với tôi những chuyến đi, những trải nghiệm, những được mất ở đời trong ngần ấy năm. Đã có lúc xe đạp cà tàng đi giao bản thảo, cũng đã có lúc ngồi bàn giấy lãnh đạo oai phong. Thất bại, thành công đều nếm đủ. Và cũng đã đến cái tuổi nhận ra vật chất chỉ là những thứ tầm thường...
Không bon chen, không mơ cao, Ninh Hồ mãn nguyện với những gì do chính tay mình viết ra mỗi ngày. Lão bảo, có dạo đói kém, bạn bè cũng rủ hùn vốn kinh doanh kiếm thêm. Nhưng lão nhát lắm. Kinh nghiệm xương máu vẫn còn như in, từ cái thời đầy hoài bão và quyết tâm buôn bán… xuyên quốc gia: Việt Nam- Liên Xô.
Chuyện là, năm 1988, lão cùng một số nhà văn Việt Nam được sang Liên Xô tu nghiệp ở trường viết văn Gorki. Thời gian tu nghiệp là ba tháng. Vốn xuất thân Kinh Bắc, tháo vát, đảm đang có thừa nên Ninh Hồ không bỏ qua cơ hội kiếm thêm “chút đỉnh”. Lão kể, ngày đó, khi xuống sân bay Matxcơva, đoàn nhà văn Việt Nam đi đứng rất khó khăn, giống hệt những phi hành gia Mỹ lên mặt trăng. Chỉ vì, mỗi người trong đoàn đều cố gắng ở mức cao nhất để mặc vào người, ít nhất là ba áo phông, hai áo phao, hai quần bò, một đôi giày Adidas “dỏm”. Tất cả đều đi qua hải quan một cách trót lọt, không hiểu có phải vì do hải quan bạn có tình cảm với nhà văn Việt Nam, hay vì họ được người của trường Gorki đón ngay tại sân bay.
Nếu như mọi người tiêu thụ rất nhanh các món quần áo, dày dép thì Ninh Hồ hình như không có duyên với buôn bán cho lắm. Gần hết khóa học vẫn còn hàng, thôi thì đành bán tống bán tháo. Đau khổ nhất là có bó hương thắt thắt gói gói cẩn thận mang sang, cứ tưởng “hàng độc” sẽ đắt khách lắm, ai ngờ chả ma nào hỏi đến. Mặt lão dài ngoằng vì phen này lỗ to. Cho tới gần ngày về, cả đoàn có lịch đi viếng mộ thi hào Nga Boris Pasternak ở ngoại ô Matxcơva.
Anh bạn cùng đoàn gợi ý với Ninh Hồ mang hiến tất cả số hương ấy để mọi người đi viếng mộ cho nó ý nghĩa. Ninh Hồ gật gù nhưng vấn ghé tai bạn nói nhỏ: “Đồng ý thôi. Nhưng chúng mày cũng tính cho tao một ít nhé!”. Ông bạn gạt phắt: “Không! Hiến tặng thì nhận, bán thì thôi! Hay mày mang về phòng mày để thắp…”. Lúc đó “khổ chủ” mới giãy nảy: “Không! Xui lắm! Thôi tao đồng ý!”. Thế là xong thỏa thuận. Ngày đó, có lẽ, trong hàng nghìn đoàn nhà văn trên thế giới về viếng mộ Pasternak, chỉ có đoàn nhà văn Việt Nam là có hương để thắp lên mộ. Rất độc đáo, mà công lớn là nhờ anh chàng Ninh Hồ...
Thi sĩ Kinh Bắc kết thúc câu chuyện bằng tràng cười khoái chí. Rồi lão nhấp thêm ngụm trà và bảo, người ta càng về già, sống nhiều, đi nhiều, tầm mắt càng rộng mở thì tư duy càng chín. Nhưng đôi khi cũng sốc lắm. Sốc vì thời gian trôi qua quá nhanh, sốc vì những điều trước nay mình tưởng thế, hóa ra không phải thế. Sốc, nhưng không có nghĩa là sợ chết, và lão viết: “Riêng cái chết của nhà thơ không phải lúc nào cũng quá buồn đâu nhé! Ấy là khi nhà thơ tự né mình đi cho ánh sáng tràn vào/ Đầy trang sách. Không một dòng khuất lấp/ Bởi cái bóng - nhà - thơ - thế - tục đã che đi!” (Bài Tiễn biệt nhà thơ).
Người ta vẫn cho rằng văn xuôi, nhất là tiểu thuyết với đặc thù và dung lượng của nó mới có thể chuyển tải hết những điều muốn nói nhưng ở Trần Ninh Hồ, hình như với thơ, lão nói được nhiều hơn, ký thác được nhiều hơn. Với lão, cái chết rồi cũng sẽ đến với tất cả mọi người nhưng riêng cái chết của các nhà thơ bao giờ cũng đẹp hơn, “thơ” hơn.
Trái tim là bằng chứng của sự sống và cái chết, trái tim là biểu tượng tuyệt vời nhất của thế giới xúc cảm. Nhưng cũng chính vì nó quá tuyệt vời nên Ninh Hồ dè sẻn từng tí một. Chả thế mà trong cả tập thơ có tới 169 bài thơ tình, dày tới hơn hai trăm trang in trong Cho người tôi thương nhớ, cũng chỉ có một bài lão dùng đến chữ “tim”: “Rất có thể ban đầu chỉ là sự đặt tên/ Người ta gọi cái này là trái tim, cái kia là khối óc…”.
Thơ lão phong tình, phong tình theo một cách rất riêng. Thường thì các nhà thơ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên quyến rũ con người, làm say lòng người, nhưng lão thì cảm khác, chính vẻ đẹp con người mới quyến rũ thiên nhiên: Mảnh vườn em qua ngày đó/ Lá xanh bay theo tóc mềm/ Cỏ xanh tràn theo gót nhỏ/ Để giờ vườn hóa vô biên... Lão cũng hủy bỏ luôn những khái niệm có tính bày vẽ kinh viện, khi người ta cứ thích vân vi chia ra thơ-hướng-nội, thơ-hướng-ngoại, thơ-trí-tuệ, thơ-xúc-cảm… Ninh Hồ bảo, làm gì mà lắm loại thơ thế! “Tức cảnh sinh tình” thôi.
Có lẽ do cách nhìn khác người như vậy, nên Ninh Hồ viết khá dễ dàng, nhìn đâu cũng ra được tứ thơ. Một đề tài muôn thuở như vầng trăng, lão có đến 16 bài thơ tứ tuyệt, mỗi bài một góc nhìn, một phát hiện nhỏ thôi, nhưng thật thú vị: Nhìn thế nào mà thấy cây đa/ Cuội thổi sáo và trâu gặm cỏ/ Ai xưa nghĩ chuyện này khi trăng tỏ/ Có phải trong đêm người ấy nhớ nhà?”...
Vẻ ngoài hiền lành, dễ “bắt nạt” nhưng Ninh Hồ vẫn “có tiếng” trong giới là “ngang như cua”. Ngay cả lúc quyết định đặt tên tập thơ là Cho người tôi thương nhớ, có người bảo cái đầu đề tập thơ này hơi… quê, và cải lương nhưng lão một mực không đổi. Lão bảo với tôi: “Thật ra, tớ có thể chọn một đầu đề “mô-đéc” hơn, ví dụ như “cho người phe nước mắt”, vì nhớ thương thì hẳn là nhiều nước mắt rồi, nhưng tớ cứ thích chân chất, tớ dùng chữ làm thơ, chứ không dùng thơ để khoe... chữ!”...
Cạn hai ấm trà, câu chuyện cũng đã vãn, trước khi chia tay, Ninh Hồ đọc tặng tôi bốn câu thơ “tự trào”: “Ở nhà thì như… khách/Ngồi quán như… chủ nhà/Viết vài ba cuốn sách/Ngỡ là đại tác gia”… Thế mới hay, kẻ tự biết mình đến vậy tức là ít ảo tưởng lắm ở cuộc đời này...
Thu Hương
“Cảm hứng đôi khi chỉ như que diêm“
Cứ mỗi buổi chiều, ông chủ quán trà đá ngay sát cổng Hội Nhà văn Việt Nam lại lẳng lặng cất riêng cái ghế cho một vị khách đặc biệt- ông Hồ nhà thơ. Đúng 2h chiều, chiếc xe máy cà tàng lạch bạch phi qua cổng, đỗ xịch dưới bóng cây, chủ nhân của nó- nhỏ con nhưng đậm người vớ lấy cái cặp táp rồi đủng đỉnh rảo bước ra hàng trà đá như một quy luật của mọi buổi chiều.
Cũng như rất nhiều người yêu thắm thiết công việc của mình, Ninh Hồ yêu luôn cái “góc sân và khoảng trời” nơi số 9 Nguyễn Đình Chiểu này. Đây như ngôi nhà thứ hai của lão. Và quán trà đá trước cổng như là nơi để lão hun đúc, tích cóp bao cảm xúc buồn vui để gửi gắm cho nàng thơ.
![]() |
Nói đến thơ Ninh Hồ, người ta khó thuộc nằm lòng bài thơ nào, mà họ chỉ biết đến như một tổng thể các bài thơ rất có duyên. Lão bảo, cũng đau khổ lắm chứ! Thấy người ta đọc xuôi, rồi đọc ngược Truyện Kiều dài đến 3254 câu thơ của cụ Nguyễn Du; lại thấy người ta ngân nga hết bài này sang bài khác của bác Nguyễn Bính; người ta véo von hát bài kia sang bài nọ của một số nhà thơ được phổ nhạc… thì lại càng sốt ruột. Nhưng biết làm sao được. “Có lẽ cái tạng của mình chỉ được vào hạng thoang thoảng nhớ!”- lão chẹp miệng và cười khơ khơ. Rồi đành tự an ủi theo lối hơi ngụy biện một chút, ví như một anh yêu say đắm một nàng và rất đau khổ khi không nhớ được mặt người yêu, chỉ bởi lẽ “thấy em như thấy mặt trời/ chói chang khó ngó trao lời khó trao”.
Thôi thì không làm người ta thuộc thì gắng mà làm người ta nhớ. Nhớ tứ, nhớ tình, nhớ cái ý tưởng đặc sắc.
Cứ bình quân, 5 năm được một tập, tới nay, lão đã có gần chục tập thơ. Cũng không đếm có bao nhiêu bài, vì với văn chương, con số có lẽ không nói được gì nhiều. “Cơ hội tạo ra cảm hứng chỉ ngắn như một que diêm. Nhà thơ phải là người nắm bắt được khoảnh khắc lóe sáng đó, chuẩn bị đèn bấc để kéo dài thứ ánh sáng đó”- lão gật gù- “Nhìn thế chứ làm văn làm thơ cũng phải có mánh. Mỗi người có một cách riêng. Nhiều người có thói quen gặp gì cũng ghi ghi chép chép. Tớ thì khác. Cái gì cần nhớ ắt sẽ nhớ, không cần nhớ sẽ quên”... Hóa ra, thơ Ninh Hồ từ trước đến nay vẫn được làm ra từ những phút nhớ nhớ quên quên ấy!
Và phải chăng cũng do cái sự luôn “nhớ nhớ quên quên” ấy, thỉnh thoảng gã thơ ấy lại giật mình tỉnh giấc giữa đêm khuya: “Tôi thường có nhiều đêm choàng tỉnh/ Mà không sao hiểu được vì sao/ Mắt ráo hoảnh như chưa từng ngủ/ Không bâng khuâng, không chút cồn cào/ Cũng không có câu thơ nào đến cả/ Những câu thơ từng ước vọng động trời/ Chẳng có lẽ vô cùng tĩnh lặng/ Và êm đềm đã đánh thức tôi“
Nếu như thơ của Ninh Hồ có sự sâu sắc, trải nghiệm thì đến với những truyện ngắn lão viết cho thiếu nhi, vẫn là sự giản dị và tính triết lý nhưng được thể hiện dưới những góc nhìn hóm hỉnh, vui tươi. Những tác phẩm của Ninh Hồ luôn toát lên sự hồn nhiên, như chính con người của lão. Mà có lẽ, suy cho cùng, văn học quyến rũ con người cũng ở chính sự hồn nhiên. Những câu thơ hay nhất là những câu thơ giản dị nhất. Những câu chuyện hấp dẫn nhất là những câu chuyện chân thành nhất.
Ninh Hồ luôn quan niệm: Viết văn cho thiếu nhi khó hơn đến mười năm so với việc viết văn cho người lớn. Bởi, trẻ con không phải là người lớn thu nhỏ lại, mà trẻ con là một thế giới hoàn toàn khác. Và lão đã lạc vào thế giới ấy để rồi cho ra đời 3 tập truyện ngắn Những ông tiên râu trắng, Những mảnh vụn trên đời, Chiếc tầu thủy bằng vàng. Ninh Hồ cũng chính là tác giả của 3 truyện rất ngắn được đưa vào SGK gồm: “Vượt bậc” (SGK lớp 2 cũ), “Tấm bản đồ lưu lạc” (SGK lớp 4 mới), “Cuộc họp của chữ viết”(SGK lớp 2).
“Về già, cũng sốc lắm!...“
Chuyện thơ đang say thì Ninh Hồ loạng quạng sang chuyện đời. Lão khoe với tôi những chuyến đi, những trải nghiệm, những được mất ở đời trong ngần ấy năm. Đã có lúc xe đạp cà tàng đi giao bản thảo, cũng đã có lúc ngồi bàn giấy lãnh đạo oai phong. Thất bại, thành công đều nếm đủ. Và cũng đã đến cái tuổi nhận ra vật chất chỉ là những thứ tầm thường...
![]() |
Chuyện là, năm 1988, lão cùng một số nhà văn Việt Nam được sang Liên Xô tu nghiệp ở trường viết văn Gorki. Thời gian tu nghiệp là ba tháng. Vốn xuất thân Kinh Bắc, tháo vát, đảm đang có thừa nên Ninh Hồ không bỏ qua cơ hội kiếm thêm “chút đỉnh”. Lão kể, ngày đó, khi xuống sân bay Matxcơva, đoàn nhà văn Việt Nam đi đứng rất khó khăn, giống hệt những phi hành gia Mỹ lên mặt trăng. Chỉ vì, mỗi người trong đoàn đều cố gắng ở mức cao nhất để mặc vào người, ít nhất là ba áo phông, hai áo phao, hai quần bò, một đôi giày Adidas “dỏm”. Tất cả đều đi qua hải quan một cách trót lọt, không hiểu có phải vì do hải quan bạn có tình cảm với nhà văn Việt Nam, hay vì họ được người của trường Gorki đón ngay tại sân bay.
Nếu như mọi người tiêu thụ rất nhanh các món quần áo, dày dép thì Ninh Hồ hình như không có duyên với buôn bán cho lắm. Gần hết khóa học vẫn còn hàng, thôi thì đành bán tống bán tháo. Đau khổ nhất là có bó hương thắt thắt gói gói cẩn thận mang sang, cứ tưởng “hàng độc” sẽ đắt khách lắm, ai ngờ chả ma nào hỏi đến. Mặt lão dài ngoằng vì phen này lỗ to. Cho tới gần ngày về, cả đoàn có lịch đi viếng mộ thi hào Nga Boris Pasternak ở ngoại ô Matxcơva.
Anh bạn cùng đoàn gợi ý với Ninh Hồ mang hiến tất cả số hương ấy để mọi người đi viếng mộ cho nó ý nghĩa. Ninh Hồ gật gù nhưng vấn ghé tai bạn nói nhỏ: “Đồng ý thôi. Nhưng chúng mày cũng tính cho tao một ít nhé!”. Ông bạn gạt phắt: “Không! Hiến tặng thì nhận, bán thì thôi! Hay mày mang về phòng mày để thắp…”. Lúc đó “khổ chủ” mới giãy nảy: “Không! Xui lắm! Thôi tao đồng ý!”. Thế là xong thỏa thuận. Ngày đó, có lẽ, trong hàng nghìn đoàn nhà văn trên thế giới về viếng mộ Pasternak, chỉ có đoàn nhà văn Việt Nam là có hương để thắp lên mộ. Rất độc đáo, mà công lớn là nhờ anh chàng Ninh Hồ...
Thi sĩ Kinh Bắc kết thúc câu chuyện bằng tràng cười khoái chí. Rồi lão nhấp thêm ngụm trà và bảo, người ta càng về già, sống nhiều, đi nhiều, tầm mắt càng rộng mở thì tư duy càng chín. Nhưng đôi khi cũng sốc lắm. Sốc vì thời gian trôi qua quá nhanh, sốc vì những điều trước nay mình tưởng thế, hóa ra không phải thế. Sốc, nhưng không có nghĩa là sợ chết, và lão viết: “Riêng cái chết của nhà thơ không phải lúc nào cũng quá buồn đâu nhé! Ấy là khi nhà thơ tự né mình đi cho ánh sáng tràn vào/ Đầy trang sách. Không một dòng khuất lấp/ Bởi cái bóng - nhà - thơ - thế - tục đã che đi!” (Bài Tiễn biệt nhà thơ).
Người ta vẫn cho rằng văn xuôi, nhất là tiểu thuyết với đặc thù và dung lượng của nó mới có thể chuyển tải hết những điều muốn nói nhưng ở Trần Ninh Hồ, hình như với thơ, lão nói được nhiều hơn, ký thác được nhiều hơn. Với lão, cái chết rồi cũng sẽ đến với tất cả mọi người nhưng riêng cái chết của các nhà thơ bao giờ cũng đẹp hơn, “thơ” hơn.
Trái tim là bằng chứng của sự sống và cái chết, trái tim là biểu tượng tuyệt vời nhất của thế giới xúc cảm. Nhưng cũng chính vì nó quá tuyệt vời nên Ninh Hồ dè sẻn từng tí một. Chả thế mà trong cả tập thơ có tới 169 bài thơ tình, dày tới hơn hai trăm trang in trong Cho người tôi thương nhớ, cũng chỉ có một bài lão dùng đến chữ “tim”: “Rất có thể ban đầu chỉ là sự đặt tên/ Người ta gọi cái này là trái tim, cái kia là khối óc…”.
Thơ lão phong tình, phong tình theo một cách rất riêng. Thường thì các nhà thơ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên quyến rũ con người, làm say lòng người, nhưng lão thì cảm khác, chính vẻ đẹp con người mới quyến rũ thiên nhiên: Mảnh vườn em qua ngày đó/ Lá xanh bay theo tóc mềm/ Cỏ xanh tràn theo gót nhỏ/ Để giờ vườn hóa vô biên... Lão cũng hủy bỏ luôn những khái niệm có tính bày vẽ kinh viện, khi người ta cứ thích vân vi chia ra thơ-hướng-nội, thơ-hướng-ngoại, thơ-trí-tuệ, thơ-xúc-cảm… Ninh Hồ bảo, làm gì mà lắm loại thơ thế! “Tức cảnh sinh tình” thôi.
Có lẽ do cách nhìn khác người như vậy, nên Ninh Hồ viết khá dễ dàng, nhìn đâu cũng ra được tứ thơ. Một đề tài muôn thuở như vầng trăng, lão có đến 16 bài thơ tứ tuyệt, mỗi bài một góc nhìn, một phát hiện nhỏ thôi, nhưng thật thú vị: Nhìn thế nào mà thấy cây đa/ Cuội thổi sáo và trâu gặm cỏ/ Ai xưa nghĩ chuyện này khi trăng tỏ/ Có phải trong đêm người ấy nhớ nhà?”...
Vẻ ngoài hiền lành, dễ “bắt nạt” nhưng Ninh Hồ vẫn “có tiếng” trong giới là “ngang như cua”. Ngay cả lúc quyết định đặt tên tập thơ là Cho người tôi thương nhớ, có người bảo cái đầu đề tập thơ này hơi… quê, và cải lương nhưng lão một mực không đổi. Lão bảo với tôi: “Thật ra, tớ có thể chọn một đầu đề “mô-đéc” hơn, ví dụ như “cho người phe nước mắt”, vì nhớ thương thì hẳn là nhiều nước mắt rồi, nhưng tớ cứ thích chân chất, tớ dùng chữ làm thơ, chứ không dùng thơ để khoe... chữ!”...
Cạn hai ấm trà, câu chuyện cũng đã vãn, trước khi chia tay, Ninh Hồ đọc tặng tôi bốn câu thơ “tự trào”: “Ở nhà thì như… khách/Ngồi quán như… chủ nhà/Viết vài ba cuốn sách/Ngỡ là đại tác gia”… Thế mới hay, kẻ tự biết mình đến vậy tức là ít ảo tưởng lắm ở cuộc đời này...
Thu Hương



