mua cua cốm ở đâu tphcmmẹo kinh doanh nhà hàngchiến thuật kéo khách của nhà hàngmón lời 0đ của nhà hàng
Xuất bản ngày 26/09/2026 08:20 AM

Mở rộng ‘lúa xanh’, hướng tới thị trường carbon

(VTC News) -

Từ những mô hình thí điểm, Nghệ An đang từng bước hình thành vùng “lúa xanh” quy mô lớn, tạo nền tảng hướng tới tín chỉ carbon.

Tại Diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn tăng trưởng xanh” do Trung tâm Khuyến nông quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức ngày 22/9 tại Nghệ An, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An đã đưa ra nhiều thông tin thiết thực.

Nghệ An có hơn 1,47 triệu ha đất nông nghiệp, chiếm gần 89,5% diện tích tự nhiên. Diện tích đất trồng lúa khoảng 182.000 ha/năm, sản lượng hàng năm trên 1,1 triệu tấn. Quy mô này vừa là lợi thế, vừa đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức canh tác để tiết kiệm nước, giảm đầu vào và phát thải khí nhà kính.

Các đại biểu tham dự hội nghị.

Các đại biểu tham dự hội nghị.

Từ năm 2024, Nghệ An phối hợp JICA, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ và Green Carbon Japan triển khai thí điểm phương pháp tưới ướt - khô xen kẽ (AWD).

Nếu vụ Xuân 2024 mới có 5.639 ha áp dụng AWD thì đến vụ Hè Thu cùng năm tăng lên 11.071 ha. Năm 2025, diện tích đạt hơn 18.000 ha vụ Xuân và gần 16.700 ha vụ Hè Thu. Đến năm 2026, con số này tiếp tục tăng lên hơn 26.300 ha vụ Xuân và hơn 30.500 ha vụ Hè Thu.

Tính lũy kế qua các vụ, Nghệ An có hơn 108.000 ha áp dụng AWD, chiếm phần lớn trong hơn 159.000 ha triển khai tại khu vực Bắc Trung Bộ.

Sự thay đổi không chỉ nằm ở những con số. Trên đồng ruộng, nông dân dần thay đổi tập quán giữ nước thường xuyên. Các ống đo được đặt trên ruộng để theo dõi mực nước, từ đó xác định thời điểm tưới phù hợp thay vì chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.

Theo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ, AWD giúp tiết kiệm khoảng 28,6-42% nước tưới, giảm 1,6-2,3 lần bơm nước/vụ. Lượng phát thải khí nhà kính giảm khoảng 3,79-6,7 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ, tương ứng giảm 53-67,83% khí methane so với phương thức duy trì ruộng ngập liên tục.

Đáng chú ý, giảm nước và giảm phát thải không đồng nghĩa với giảm năng suất. Kết quả tại các mô hình cho thấy năng suất lúa áp dụng AWD tăng khoảng 4,6-8,6% so với đối chứng, tỷ lệ đổ ngã cũng giảm.

Để kỹ thuật mới đi vào thực tế, hệ thống khuyến nông tổ chức hàng trăm lớp hướng dẫn cho nông dân. Năm 2024, Khuyến nông Nghệ An tổ chức 105 lớp cho 5.250 người; năm 2025 có 112 lớp với 5.600 người tham gia; đến tháng 8/2026 tiếp tục tổ chức 100 lớp cho khoảng 5.000 người.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, chia sẻ về vai trò của hệ thống khuyến nông trong nhân rộng mô hình lúa phát thải thấp.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, chia sẻ về vai trò của hệ thống khuyến nông trong nhân rộng mô hình lúa phát thải thấp.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, cho rằng khuyến nông trong giai đoạn mới không thể chỉ dừng ở chuyển giao một quy trình kỹ thuật mà phải trở thành cầu nối giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.

Không chỉ giảm nước, phải tăng giá trị hạt gạo

Theo các chuyên gia, nếu chỉ xem AWD là một kỹ thuật tưới nước, việc nhân rộng mô hình sẽ gặp giới hạn. Muốn hình thành vùng lúa phát thải thấp phải đồng bộ từ giống, gieo cấy, phân bón, quản lý nước, phòng trừ dịch hại đến cơ giới hóa, xử lý rơm rạ và tiêu thụ sản phẩm. Trong đó, điều kiện thủy lợi là yếu tố then chốt. Trước khi mở rộng AWD, địa phương phải đánh giá khả năng chủ động cấp, tiêu nước, phân vùng tưới và thống nhất lịch điều tiết giữa đơn vị thủy lợi, hợp tác xã và người dân.

Các chuyên gia cũng lưu ý giảm đầu vào phải theo nguyên tắc “đúng và đủ”, không phải giảm bằng mọi giá. Lượng giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật phải được điều chỉnh phù hợp với điều kiện đất đai, mùa vụ và tình hình dịch hại.

Một mắt xích khác là rơm rạ. Thay vì đốt ngoài đồng hoặc vùi rơm tươi trong điều kiện ngập nước kéo dài, phụ phẩm này có thể được thu gom để trồng nấm, làm thức ăn chăn nuôi, phân hữu cơ, vật liệu che phủ hoặc than sinh học.

Cơ giới hóa cũng cần được tổ chức theo chuỗi từ làm đất, gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch đến thu gom phụ phẩm. Thay vì mỗi hộ đầu tư máy riêng lẻ, hợp tác xã, tổ dịch vụ và doanh nghiệp có thể đảm nhiệm dịch vụ cơ giới trên vùng sản xuất tập trung.

Bài toán cuối cùng vẫn là giá trị kinh tế. Nếu giảm được phát thải nhưng người trồng lúa không tăng thu nhập, mô hình khó có thể phát triển bền vững.

Tại diễn đàn, ông Phan Văn Hòa, Giám đốc Công ty TNHH KHCN Vĩnh Hòa, đưa ra câu chuyện phát triển các giống lúa chất lượng cao, lúa thảo dược và chế biến sâu. Theo doanh nghiệp, các giống Thảo dược Vĩnh Hòa đã được triển khai tại 18 tỉnh, cùng 9 sản phẩm chế biến từ lúa gạo, trong đó 4 sản phẩm đạt OCOP 3 sao.

Từ thực tế này, các đại biểu cho rằng lúa phát thải thấp cần được đặt trong một chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Doanh nghiệp tham gia từ giống, kỹ thuật, thu mua đến chế biến và thị trường; hợp tác xã làm đầu mối tổ chức vùng; người dân sản xuất theo quy trình thống nhất và có đầu ra ổn định.

Từ “lúa xanh” đến tín chỉ carbon

Một hướng đi mới được các chuyên gia đề cập tại diễn đàn là khả năng tạo tín chỉ carbon từ hoạt động giảm phát thải trên ruộng lúa.

Để tiến tới thị trường này, giảm phát thải phải được đo đếm và xác thực. Các thông tin về diện tích, tọa độ, mực nước, nhật ký sản xuất và lượng khí nhà kính cắt giảm cần được chuẩn hóa thông qua hệ thống MRV - đo đạc, báo cáo và thẩm định.

Khi dữ liệu đủ minh bạch và đáp ứng tiêu chuẩn, kết quả giảm phát thải mới có cơ sở được xác nhận và tiến tới thương mại hóa tín chỉ carbon.

Ông Phan Văn Hòa, Giám đốc Công ty TNHH KHCN Vĩnh Hòa, với sản phẩm gạo thảo dược Vĩnh Hoà đạt sản phẩm OCOP 3 sao.

Ông Phan Văn Hòa, Giám đốc Công ty TNHH KHCN Vĩnh Hòa, với sản phẩm gạo thảo dược Vĩnh Hoà đạt sản phẩm OCOP 3 sao.

Tuy nhiên, đây không phải câu chuyện có thể thực hiện chỉ bằng một kỹ thuật. Hệ thống thủy lợi phải đủ khả năng điều tiết nước; hợp tác xã đủ năng lực tổ chức vùng; cán bộ khuyến nông phải làm chủ cả kỹ thuật và dữ liệu; doanh nghiệp tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ.

Theo ông Lê Quốc Thanh, mô hình chỉ có thể nhân rộng bền vững khi lợi ích của các bên được xác định rõ: nông dân giảm chi phí và có đầu ra ổn định; hợp tác xã có nguồn thu từ dịch vụ; doanh nghiệp có vùng nguyên liệu đồng nhất, truy xuất được; địa phương đạt mục tiêu về kinh tế và môi trường.

Trung tâm Khuyến nông quốc gia định hướng chuyển từ cách làm “tập huấn - xây dựng mô hình” sang “hướng dẫn - thực hành - theo dõi - đánh giá - nhân rộng”, đồng thời phối hợp với các viện nghiên cứu, địa phương và doanh nghiệp xây dựng các gói kỹ thuật phù hợp với từng vùng sinh thái.

Nghệ An đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành khoảng 50.000 ha lúa sản xuất theo quy trình giảm phát thải. Con số này không đơn thuần là câu chuyện mở rộng diện tích mà đòi hỏi thay đổi cách tổ chức sản xuất, quản lý dữ liệu và xây dựng chuỗi giá trị.

Từ việc rút nước đúng thời điểm trên từng thửa ruộng, một phương thức sản xuất mới đang dần hình thành. Khi giảm phát thải gắn được với giảm chi phí, nâng giá trị hạt gạo và tạo thêm thu nhập, “lúa xanh” mới có thể trở thành lựa chọn lâu dài của người nông dân.

Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn