cua cấp đông HACCPnuôi cua bằng AInuôi cua AInuôi cua tuần hoàn AI
Xuất bản ngày 23/10/2026 04:00 PM

Giá trị của từ đệm phương ngữ 'mô', 'tê', 'răng', 'rứa'

Trải nghiệm phương ngữ với từ đệm như "à cơ", "mô", "tê", "răng", "rứa" cùng hệ thống từ vựng độc đáo là thử thách thú vị về sự phong phú của tiếng Việt.

Trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt khi có dịp đến một địa phương, một khu vực, một vùng đất khác trong nước, chúng ta rất dễ dàng bắt gặp những từ như “à cơ”, “mô”, “tê”, “răng”, “rứa”…trong giao tiếp. Đây được xem như biểu hiện cụ thể của phương ngữ bên cạnh hệ thống từ vựng. Cùng với đó, phương ngữ trong giao tiếp còn thể hiện ở âm lượng, tốc độ nói, cách “nuốt” âm.

Phương ngữ thể hiện ở từ đệm ra sao?

Lê Trần Hà Phương, sinh viên năm thứ hai khoa Du lịch, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, đại học Quốc gia Hà Nội có ông ngoại là người Hà Tĩnh nên khá quen với những trường hợp như “cái gì thế?” sẽ thành “cái chi rứa?”

Ra Hà Nội học đại học, suốt 4 năm qua, Lê Minh Tiến, sinh viên trường Học viện Ngoại giao thường phải nhắc lại nội dung với bạn bè bằng tốc độ chậm hơn. Khi nói, Tiến vẫn giữ thói quen nuốt âm của người miền Nam. Ví dụ như “Không” thường thành “Hông” hoặc “Hỏng” lại thêm tốc độ nói nhanh đã khiến “Mình không làm được” thành “Mình hỏng làm được”.

Còn khi ở vị trí người nghe, Minh Tiến cho rằng ban đầu, chỉ phần từ vựng phương ngữ gây khó hiểu còn cơ bản người ở phía Bắc ít dùng từ đệm, phát âm rõ từng từ nên rất dễ nắm bắt nội dung.

Từ trải nghiệm học tập cùng các bạn đến từ nhiều vùng miền, Hà Phương cho rằng cá nhân bạn rất thích nghe giọng các bạn từ miền Nam ra, dù có từ đệm, nuốt âm hơi khó nghe nhưng đổi lại sẽ vô cùng ngọt ngào, dịu dàng.

“Minh Tiến ra ngoài này bỡ ngỡ với các bạn miền Bắc thì mình vào trong kia cũng sẽ nhiều lần gặp tình huống buồn cười khi nói chuyện với các bạn ấy. Đôi khi mình cũng không hiểu gì vì các bạn sử dụng rất nhiều từ khá là lạ, chắc phải sử dụng Google Dịch thuật”, Hà Phương chia sẻ.

Cả Minh Tiến và Hà Phương lại gặp khó một chút khi trò chuyện với các bạn miền Trung bởi mật độ từ đệm phương ngữ dày đặc, cách nói luyến láy càng khiến việc phải nhắc lại nội dung trong nhiều trường hợp trở nên cần thiết.

Những đặc sắc của từ đệm phương ngữ tạo ra cho ngôn ngữ tiếng Việt

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy, giảng viên Khoa Ngôn ngữ học và Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội điểm thú vị của các hư từ, từ đệm phương ngữ như “à cơ”, “mô”, “tê”, “răng”, “rứa” là chứa được hai giá trị cốt lõi.

Thứ nhất thể hiện giá trị về ngữ dụng và biểu cảm. Các từ như “mô”, “tê”, “răng”, “rứa” thuộc hệ thống đại từ chỉ định nghi vấn tương ứng với từ toàn dân gồm “đâu”, “đó”, “kìa”, “sao thế”...

Từ đệm phương ngữ, hay nhưng cũng khó (Ảnh tạo bởi AI)

Từ đệm phương ngữ, hay nhưng cũng khó (Ảnh tạo bởi AI)

Khi sử dụng, những từ đệm này tạo nên thái độ giao tiếp nhẹ nhàng, kín đáo, vừa có phần mộc mạc lại giàu tính tâm sự, chia sẻ. Các từ như “à cơ”, “chớ”, “nghe”, “nha”…thuộc các tiểu từ tình thái đứng ở cuối câu làm mềm hóa câu lệnh, tăng tính thân mật, biểu thị sắc thái phân trần, rủ rê hoặc khẳng định nhẹ nhàng.

Về mặt phát âm và ngữ âm học, các cái từ này cũng có giá trị trong độ mở về âm tiết và thanh điệu. Phương ngữ Bắc Trung Bộ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình có hệ thống thanh điệu nặng hơn.

“Dấu hỏi và dấu ngã thường nhập làm một hoặc có sự phát âm biến thiên thành thanh nặng hoặc thanh trầm. Thứ hai là âm điệu du dương hoặc trầm. Phát âm các từ đệm phương ngữ này liền với giọng nói có cao độ hẹp, ngắt nhịp đột ngột tạo nên nét trầm trầm sâu lắng rất riêng của người sử dụng”, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy phân tích.

Về vận hành của phương ngữ, cho đến nay vẫn tiếp tục được tạo ra và biến đổi liên tục, không bao giờ đứng yên hay cố định hoàn toàn, diễn ra theo 2 chiều hướng song song. Thứ nhất theo chiều hướng tiêu biến và đồng hóa.

Do sự phát triển của truyền thông đại chúng, giáo dục quốc gia và hiện tượng di cư, các phương ngữ thổ, ngữ hẹp, ví dụ như là phương ngữ làng, xã đang có xu hướng bị thu hẹp lại, tiến gần đến tiếng Việt chuẩn mực, ngôn ngữ toàn dân.

Bên cạnh đó, phương ngữ có chiều hướng sản sinh biến thể mới. Cụ thể đây có phương ngữ xã hội và biến thể đô thị.

“Phương ngữ xã hội thể hiện ở sự xuất hiện ngôn ngữ của giới trẻ, từ ngữ công nghệ, tiếng lóng tạo ra các phương ngữ không gian mạng hoặc phương ngữ nhóm. Thứ hai nữa là sự giao thoa về phương ngữ địa lý. Người miền Bắc sống lâu năm tại thành phố Hồ Chí Minh hoặc ngược lại tạo ra một dạng phương ngữ có sự lai tạp giữa các miền. Cùng việc giữ nguyên khung thanh điệu gốc, tiếp thu toàn bộ hệ thống tử vựng sinh hoạt của vùng đất mới”, cô Phương Thùy cho biết.

Để từ đệm hay hư từ phương ngữ phát huy tối đa giá trị thẩm mỹ mà không gây cản trở cho hoạt động giao tiếp, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thùy cho rằng người sử dụng nên tuân thủ đúng nguyên tắc về ngữ cảnh, đối tượng. Ví dụ trong văn bản hành chính trong công việc giao tiếp chính thức cần ưu tiên tuyệt đối cho ngôn ngữ toàn dân, tức là ngôn ngữ tiếng Việt chuẩn mực.

Tránh đưa từ ngữ địa phương hẹp vào báo cáo, hợp đồng, thư từ, thương mại hoặc vào các bài phát biểu chính thức nhằm đảm bảo tính chính xác, minh bạch và tránh hiểu lầm. Còn trong giao tiếp đời sống hàng ngày và nghệ thuật, chúng ta có thể linh hoạt sử dụng phương ngữ như là một công cụ kết nối tình cảm, thể hiện bản sắc văn hóa vùng miền và sự gần gũi.

Về kỹ năng ứng xử văn hóa ngôn ngữ giúp tăng cường tính linh hoạt. Một người giao tiếp linh hoạt là khi có thể chuyển đổi giữa tiếng địa phương khi nói chuyện với gia đình, đồng hương và tiếng toàn dân khi giao tiếp với những người ở các vùng khác hoặc trong môi trường công sở.

Việc tôn trọng đa dạng ngôn ngữ cần được coi trọng để không coi phương ngữ vùng nào là chuẩn hơn hay kém chuẩn hơn.

Ý Dịu (VOV2.VN)
Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn
Cùng chuyên mục