món cho vườn bia (beer garden)lời 0đ vẫn bán, nhà hàng làm sao có lãicua Cà Mau mua ở đâu ngonnuôi cua AI
Xuất bản ngày 07/11/2011 12:57 PM

ĐTTBG: Theo chân những người lính mở đường

Hành trình đi tìm hiểu và làm phim tài liệu về “Con đường tuần tra biên giới - con đường ý Đảng, lòng dân”.

Theo chân Đại Úy Ngô Việt Vương, Trợ lý chính trị - Ban quản lý dự án đường tuần tra biên giới (viết tắt là Ban quản lý dự án 47), chúng tôi lên đường vào Nghệ An, bắt đầu một hành trình đi tìm hiểu và làm phim tài liệu về “Con đường tuần tra biên giới - con đường ý Đảng, lòng dân”. Phim dự kiến sẽ phát sóng tháng 11/2011 trên Kênh VTC1.

Để thực hiện con đường này, Chính Phủ đã ra Nghị quyết về Đường tuần tra biên giới (ĐTTBG). Ngày 14/3/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định số 313/QĐ-TTG phê duyệt đề án “Quy hoạch xây dựng đường tuần tra biên giới đất liền giai đoạn 2006 - 2010 và những năm tiếp theo”, đồng thời giao cho Bộ Quốc Phòng thực hiện, Đại tướng Phùng Quang Thanh làm Trưởng Ban chỉ đạo. Sau khi Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Thường vụ Đảng ủy quân sự Trung ương (nay là Thường vụ Quân ủy Trung ương) đã có Nghị quyết 132 chuyên đề về lãnh đạo xây dựng đường Tuần tra biên giới, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng đã ra Chỉ thị 60 về triển khai xây dựng đường Tuần tra biên giới. Ban quản lý Dự án Đường tuần tra biên giới trực thuộc Bộ Quốc Phòng ra đời từ đó. Theo chỉ định của Bộ, lực lượng bộ đội công binh, các doanh nghiệp xây lắp hàng đầu trong toàn quân và hàng loạt đơn vị khảo sát, thiết kế tinh nhuệ nhất của Bộ Quốc Phòng đã tham gia xây dựng tuyến đường.

Thực tế, toàn tuyến đường tuần tra dài 14.251 km đi qua 25 tỉnh, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, nhưng Ban lãnh đạo Dự án 47 chỉ đưa chúng tôi tới cửa khẩu Thanh Thủy (giáp Lào) và Na Ngoi, Mường Típ (nơi có đỉnh Pu Vai Lai Leng cao nhất mà tuyến đường đi qua trên 2.700m) để chứng kiến các đơn vị quân đội thi công con đường. Các anh giải thích, đây là tuyến đường thuộc loại khó khăn và điển hình nhất cho việc thi công con đường tuần tra biên giới. Vì ở đây thi công trên độ cao nhất, địa hình, thủy văn cũng phức tạp. Từ Con Cuông đến cửa khẩu Thanh Thủy, chúng tôi đi mất hơn 3 tiếng đồng hồ. Nói là cửa khẩu, nhưng giữa hai nước Việt Nam và Lào chỉ được chắn bằng một parierre đơn sơ và bên cạnh là ngôi nhà sàn của đồn biên phòng Thanh Thủy.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về thành quả của các anh là con đường bê tông xi măng rất đẹp và kiên cố đi qua đại ngàn Trường Sơn. Ngồi trên xe ô tô từ Cửa khẩu Thanh Thủy, đi qua bao dãy núi cao thấp khác nhau, thấy mình như đang trên đỉnh Trường Sơn hùng vĩ, có thể phóng rộng tầm mắt xuống phía dưới ngắm những chiếc nhà sàn bé nhỏ tí xíu,những áng mây lượn lờ, bồng bềnh như những dải lụa trắng ôm trọn núi hoang sơ. Ngoái cổ nhìn lại những đoạn đường đã đi qua, con đường bê tông giống như một nét vẽ ngoằn ngoèo vắt ngang dọc. Tôi chợt nghĩ, nếu lái xe bất cẩn một chút, chắc không có cơ hội để làm lại… Phía dưới tuyến đường, vực thẳm toàn cây rừng nhấp nhô như loài thú dữ lúc nào cũng há miệng đón đợi con mồi…

Cùng đưa chúng tôi đi còn có Trung tá Đỗ Việt Khoa, người được BQL giao phụ trách tuyến đường ở Thanh Thủy, chốc chốc lại dừng xe xuống giới thiệu cho chúng tôi những kỷ niệm khi thi công tuyến đường này. Chỉ tay xuống đoạn đường ở địa điểm Thanh Hương (Thanh Thủy), anh nhớ lại: “Trước đây chỉ có mấy cây số từ dưới cái lán kia lên đây nhưng chúng tôi phải đi bộ từ sáng đến hơn 11h trưa mới tới đường tuần tra này. Bây giờ các anh đi thì thấy đơn giản, nhưng để có hơn 1km đường thế này gian nan lắm”…

NHỮNG NGÀY GIAN KHÓ

Khi hỏi về khó khăn của những người thi công con đường này, Đại tá Lê Hữu Bình, Chủ nhiệm chính trị BQL dự án đưa cho tôi hai đĩa DVD do Đài THVN và Điện ảnh quân đội thực hiện cùng với một tập báo Quân đội nhân dân viết về ĐTTBG, rồi nói “Chỉ cần xem và đọc những trang báo này anh sẽ hình dung ra được khó khăn của những đơn vị quân đội chúng tôi”. Dù tập tài liệu rất dày nhưng tôi vẫn một mực yêu cầu được “mục sở thị”, được mang những trải nghiệm thực tế vào trong tác phẩm phim tài liệu của mình. Tôi quyết định sẽ đi thực tế trước rồi mới viết kịch bản chi tiết và lời bình. Một hành trình gập ghềnh bắt đầu. Tôi đã không thể nghĩ rằng mình sẽ nhận được quá nhiều trải nghiệm, hơn là tư liệu cho một bộ phim tài liệu từ chuyến đi ấy…

Chúng tôi đến Na Ngoi thuộc huyện Kỳ Sơn thì trời đã quá trưa. Đại tá Phan Tiến Long, Giám đốc ban điều hành dự án gói thầu 1 Na Ngoi cho chúng tôi biết: “Ở Na Ngoi mùa này mỗi ngày ít nhất có hai trận mưa, đường lún sụt ghê lắm. Đã có trường hợp người dân không may đi vào vũng bùn ngập, may mà được cứu kịp thời”. Khu rừng chúng tôi tới quay phim thời điểm này không nhiều vắt và côn trùng độc, anh chỉ dặn dò cả đoàn phải hết sức đề phòng lũ ruồi vàng.

Rút kinh nghiệm sau chuyến công tác vùng rừng núi Sơn Kim, tỉnh Hà Tĩnh, bị côn trùng cắn, sốt 38,5 độ liên tục 5 ngày không rứt, tôi đã mua một lọ thuốc Soffell, bôi khắp hai tay, cổ và mặt. Nhưng may thay, trong chuyến đi này cả đoàn đều “hạ cánh” an toàn.

Để đến được khu thi công ở Na Ngoi, chúng tôi phải leo bộ qua đường công vụ mới mở, bám đất lên những vách núi gần như thẳng đứng, trơn trượt vì hôm trước trời mưa. Trường Sơn thật khắc nghiệt. Chỉ một đoạn đường vài cây số mà tôi có cảm tưởng ở đó hội tụ hai mùa mưa nắng rõ rệt. Đi một đoạn đường, trời nắng chang chang, nhưng đi tiếp vài cây số nữa trời lại mưa to như trút nước, không sấm, không sét, mưa cứ rơi tự nhiên không báo trước... Rừng Trường Sơn buổi chiều sụp tối cũng rất nhanh. Chúng tôi luôn ở trong trạng thái phải sẵn sàng tranh thủ quay bất cứ lúc nào có thể để tránh mưa và trời tối.

Nhìn cả đoàn lội bùn bì bạch, Trung tá Đỗ Việt Khoa động viên: “Các nhà báo phải làm quen với Trường Sơn “sớm nắng chiều mưa đi”. Mà quả thật, sự khắc nghiệt của thời tiết nơi đây buộc con người phải thích ứng. Tôi cũng không còn quan tâm tới những cơn mưa rừng hay nghĩ đến việc thay bộ quần áo ướt sũng trên mình nữa. Cứ để đấy, đi thêm vài cây số dưới trời nắng chang chang là nó tự khô. Khô rồi ướt, ướt rồi lại tự khô, đơn giản như hơi thở của Trường Sơn vốn là như vậy. Mà khó khăn chúng tôi trải qua nào có thấm tháp gì đâu. Những chiến sỹ đang thi công con đường này còn phải chịu những gian nan như vậy đến… mấy chục năm nữa mới xong. Đó là chưa kể những chuyến thực địa đi lạc rừng… Những ngày xa nhà chỉ có cây rừng và lá bầu bạn… Những cuộc hành quân hơn chục cây số mới gặp nhà dân… Thế mới biết, mỗi tấc ĐTTBG thực sự là cuộc đọ sức, đọ trí đầy gian khó của những cán bộ và chiến sỹ quân đội….

Tôi không có dịp gặp gỡ và làm việc với những người đầu tiên định hướng ĐTTBG như Đại tướng Phạm Văn Trà, Đại tá Nguyễn Văn Hoàn… Chỉ may mắn được gặp gỡ và trao đổi với thiếu tướng Hoàng Kiền, Giám đốc BQL dự án 47. Ông có dáng người khắc khổ, nhưng “chất lính” vẫn hừng hực và quyết liệt như những năm tháng ông là chiến sỹ công binh Trường Sơn xưa. Ông cho biết, để xây dựng đường bê tông xi măng vĩnh cửu, tự ông phải tìm tòi các sách của nước ngoài để tìm hiểu và áp dụng tiêu chuẩn chất lượng đường bê tông của nước ngoài vào Việt Nam. “Mục tiêu là phải làm cho được con đường vĩnh cửu. Đường nhựa sửa thì dễ, chứ đường bê tông rất khó sửa lại. Vì vậy phải khảo sát thật tốt, xác định hướng, tuyến càng chính xác càng ít sai sót”. Làm thơ từ thuở binh nhì (1971), nhưng bẵng đi hàng thập kỷ Thiếu tướng Kiền không viết thêm bất cứ tác phẩm nào… Cho tới khi đảm nhiệm chức vụ giám đốc BQL dự án 47, trực tiếp đi khảo sát, chỉ đạo xây dựng con đường, phải đối mặt với những gian khó, ông lại làm thơ. Những bài thơ vừa ghi lại những cảm xúc bất chợt giữa đại ngàn, vừa giúp ông giải tỏa phần nào sự mệt mỏi, căng thẳng bởi công việc luôn ở trạng thái hối thúc không ngừng: Đường biên giới tỉnh Sơn La/ Triển khai xây dựng thật là gian nan/Mênh mông rừng núi bạt ngàn/ Vùng biên trùng điệp địa bàn xa xôi/ Khởi công năm dự án rồi/ Hai trăm cây số bao nơi đợi chờ…

Đi cùng với gian khó, những đoạn đường đã hiện dần ra… Và họ, những người chiến sĩ, công binh chính là những người đầu sóng, ngọn gió, “khai sơn, phá thạch” để mở đường…

NHỮNG THÀNH QUẢ ĐẦU TIÊN…

Qua 5 năm thực hiện, đến nay hình ảnh về ĐTTBG đã in dấu trên bản đồ nước Việt. Hơn 2.042km đường đầu tiên đã triển khai, 1.800 km đường đã được thông tuyến, trong đó 700km đường bê tông xi măng. Ở Tây Nguyên đã thông 550 km tuyến đường thuộc địa bànKom Tum - Gia Lai, một số tuyến ở khu vực Tây Bắc, Tây Nghệ An đường đã hoàn thành, góp phần không nhỏ trong việc ổn định tình hình an ninh chính trị khu vực biên giới, chống thâm nhập móc nối của bọn phản động, chống vượt biên trái phép, buôn lậu, buôn bán phụ nữ qua biên giới, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền giữa nước ta với các nước láng giềng. Đặc biệt, tuyến đường này đã giúp cho nước ta nâng sức mạnh phòng thủ biên cương, củng cố vững chắc thế trận biên phòng toàn dân.

Giờ đây, ở nơi những con đường tuần tra mới mở, nhiều bản làng đã bắt đầu dựng lên hình hài. Đồng bào dân tộc thiểu số từ rừng sâu, núi cao đã dịch cư bám ra gần đường, khai hoang, xây dựng cuộc sống mới. Ông La Văn Bốn, người dân tộc Đan Lai ở Con Cuông Nghệ An, năm nay ông đã bước vào tuổi cổ lai hy, được BQL dự án 47 và các đơn vị quân đội tặng cho ngôi nhà tình nghĩa, rưng rưng nước mắt khi nói với chúng tôi “Tôi già rồi nên chỉ mong muốn làm sao sống thật lâu để được đi đến tận cùng con đường này, được giao lưu với các bản ở Kỳ Sơn, Hòa Bình…”. Đại tá Lê Hữu Bình cho biết, hiện nay ở Lạng Sơn, có gia đình chuyển nhà từ trong bản ra gần đường biên, họ trồng thông và bán nhựa, có tháng thu cả vài trăm triệu…

Không chỉ có con đường đi lại, người dân còn có điều kiện lưu thông hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm làm ra và tiếp cận với cuộc sống văn minh, hiện đại. Trong tương lai, dọc theo tuyến đường biên giới, sẽ có các trạm thông tin liên lạc nối liền các đồn biên phòng. Điện, đường, trường, trạm sẽ mọc lên, người dân vùng sâu, vùng xa được hưởng cuộc sống mới nhiều lợi ích từ dự án này.

Không có gì vui hơn khi từng ngày, từng giờ con đường dần một hoàn thiện. Như con ong chăm chỉ, góp mật cho đời, những chiến sỹ công binh, các doanh nghiệp quân đội và Ban quản lý dự án đường Tuần tra biên giới đã làm hết sức mình vì con đường của ý Đảng, lòng dân. Chính các anh là những người đã tiếp nối cho những vần thơ Nam Quốc Sơn Hà ngàn đời vang vọng. Đó cũng chính là lời hịch truyền nhắc nhở cho muôn đời các thế hệ mai sau hiểu rằng: Mỗi tấc đất, nhành cây của Tổ quốc này đều là kết quả vun trồng từ mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Gìn giữ và phát huy tinh thần yêu nước là trách nhiệm không của riêng ai./.

Khi đường tuần tra biên giới hoàn thành, ngoài sự đảm bảo về chính trị, an ninh quốc phòng là những hi vọng về cuộc sống mới của người dân vùng sâu, núi cao… Sẽ có điện, đường, trường, trạm, sẽ hết đói nghèo, sẽ để con chữ về đến tận bản… Để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của Đường tuần tra biên giới, chúng tôiđã thực hiện pv nhanh với Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng., Trưởng ban chỉ đạo Đường tuần tra biên giới…

Phỏng vấn Đại tướng Phùng Quang Thanh

Thưa Đại tướng, là Trưởng ban chỉ đạo ĐTTBG, xin Đại tướng cho biết ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng của con đường này?

Nói về ý nghĩa con đường, có thể nêu lên một số vấn đề nổi bật sau:

Một là, xây dựng con đường là mơ ước ngàn đời của cha ông ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước đều mong muốn xây dựng một dải biên cương vững chắc, bình yên, no ấm, hoà hiếu với láng giềng. Là mơ ước ngàn đời nhưng chưa bao giờ đất nước ta có điều kiện hoà bình, thuận lợi để triển khai con đường này. Vì vậy, triển khai con đường mang ý nghĩa lịch sử to lớn, mang tầm chiến lược trong kế sách dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta.

Hai là, xây dựng hệ thống ĐTTBG là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, được Chính phủ giao cho quân đội tổ chức thực hiện. Công trình trọng điểm này có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Về ý nghĩa quốc phòng, Đường tuần tra biên giới được xây dựng đã tạo điều kiện thuận lợi cho Bộ đội biên phòng tuần tra, bảo vệ chủ quyền, an ninh, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới; chống vượt biên, chống xâm nhập trái phép, buôn lậu, vận chuyển ma túy; di chuyển, thành lập mới các đồn, trạm biên phòng, tạo điều kiện để từng bước giảm quân số các đồn biên phòng, góp phần củng cố các khu vực phòng thủ; bảo đảm cơ động cho các lực lượng và một số loại phương tiện quân sự, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phân giới cắm mốc.Nghĩa là ĐTTBG nâng cao sức mạnh phòng thủ biên cương, củng cố vững chắc thế trận biên phòng toàn dân; đường tuần tra biên giới cũng có ý nghĩa quan trọng trong cơ động lực lượng khi có tình huống xảy ra. Trong bối cảnh địa hình biên giới hiểm trở, công tác phân giới cắm mốc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng còn diễn biến phức tạp thì đường tuần tra biên giới ra đời có ý nghĩa quan trọng bảo vệ đường biên, cột mốc, sự toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền, ngăn ngừa và ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành động xâm phạm an ninh biên giới quốc gia. Đối với các đơn vị thi công là các đơn vị công binh và doanh nghiệp, việc tham gia xây dựng con đường vừa góp phần nâng cao trình độ, kinh nghiệm làm đường, năng lực công binh, vừa có cơ hội tích luỹ nguồn lợi nhuận, mua sắm, hiện đại hoá trang bị.

Ba là, về mặt kinh tế xã hội, đường tuần tra biên giới được xây dựng kết nối với đường vành đai biên giới, đường dân sinh góp phần phát triển giao thông, tạo điều kiện cho nhiều địa phương đưa dân ra sát biên; tiếp tục phát triển các khu kinh tế quốc phòng, đẩy mạnh lưu thông hàng hóa. Thực tiễn vừa qua cho thấy, ở những khu vực tuyến đường đã hoàn thành, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào vùng biên giới được cải thiện rõ rệt, nhân dân phấn khởi, yên tâm sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Tuyến đường đã góp phần tạo thế trận mới, tăng cường khả năng phòng thủ trên từng khu vực trên hướng biên giới, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.

Xin trân trọng cám ơn Đại tướng!


Ghi chép của BTV Nguyễn Văn Phú

Ảnh: Ngô Việt Vương


Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn