Một hệ thống, nhiều nguồn dữ liệu
Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng gồm 7 nhóm chính: Dữ liệu về tiêu chuẩn; dữ liệu về quy chuẩn kỹ thuật; dữ liệu về Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia; dữ liệu về đo lường; dữ liệu về hoạt động đánh giá sự phù hợp; dữ liệu thông báo, hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại của quốc gia; thông tin phản ánh, xử lý kiến nghị của tổ chức, cá nhân. Cách tổ chức này cho thấy dữ liệu được đặt trong mối liên hệ với hoạt động quản lý và thực hiện các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng.
Đến tháng 7/2026, Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đã cung cấp thông tin cho người dân, doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước ở Trung ương, 34 tỉnh thành trên cả nước. Đây là bước chuyển quan trọng trong quá trình hình thành hạ tầng chất lượng quốc gia theo hướng thống nhất, đồng bộ.
Nghị định số 22/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật cũng xác định rõ vị trí của Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng trong phương thức quản lý mới.
Theo đó, cơ sở dữ liệu không được đặt riêng cho một khâu quản lý mà bao quát liên tục các lĩnh vực tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường và chất lượng. Việc xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng hệ thống phải bảo đảm mức độ sẵn sàng, an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu của tổ chức, cá nhân; đồng thời tạo thuận lợi cho việc thu thập, cập nhật, điều chỉnh, tra cứu, khai thác và sử dụng thông tin.
Nghị định cũng đặt yêu cầu về khả năng kết nối, chia sẻ và quyền khai thác thông tin giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và những hệ thống thông tin khác.
Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng quốc gia, cho biết cơ sở dữ liệu được xây dựng, quản lý theo hướng kết nối, tập trung, thống nhất và đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Đây là một cấu phần của nền tảng số quản lý hạ tầng chất lượng quốc gia. Việc chuẩn hóa, số hóa dữ liệu nhằm giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong tiếp cận và tra cứu thông tin.

Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng quốc gia, chia sẻ về cơ sở dữ liệu tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng.
Định hướng này gắn với những thay đổi của hệ thống pháp luật về tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại Luật số 70/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và Luật số 78/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Dữ liệu phải phục vụ doanh nghiệp
Cùng với các quy định mới, phương thức quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa cũng có sự thay đổi theo hướng tăng cường hậu kiểm, quản lý dựa trên mức độ rủi ro, giảm các yêu cầu tiền kiểm đối với những nhóm sản phẩm có mức độ rủi ro thấp. Do đó, việc công bố thông tin trên môi trường số có vai trò trực tiếp trong quá trình tổ chức thực hiện và phục vụ công tác quản lý sau lưu thông.
Đối với doanh nghiệp, việc tập trung dữ liệu hỗ trợ tra cứu các yêu cầu mà sản phẩm, hàng hóa phải đáp ứng, cũng như tiếp cận các thông tin liên quan đến tiêu chuẩn, quy chuẩn và đánh giá sự phù hợp. Đây cũng là yêu cầu đặt ra khi hoạt động tiêu chuẩn hóa ngày càng gắn chặt với thương mại quốc tế.

Ông Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng quốc gia.
Theo ông Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng quốc gia, hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện. Hiện hệ thống thường xuyên có khoảng 400-500 người truy cập đồng thời; từ ngày 1/7/2026, mỗi ngày có 500-700 lượt công bố hợp quy, cao điểm khoảng 1.000 lượt. Đáng chú ý, thời gian thực hiện thủ tục công bố hợp quy được rút từ khoảng 7-10 ngày trước đây xuống còn 2-5 phút trên hệ thống điện tử; trường hợp cần bổ sung thông tin khoảng 10 phút. Những con số này cho thấy hệ thống đã bắt đầu được sử dụng cho các hoạt động có liên quan trực tiếp đến thủ tục và công việc của doanh nghiệp.
Cùng với đó, để dữ liệu và hệ thống quy chuẩn được cập nhật thường xuyên và theo kịp phương thức quản lý mới, khoảng 824 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành được các bộ, ngành liên quan rà soát, phân loại theo mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa để điều chỉnh, sửa đổi hoặc bãi bỏ phù hợp thực tế.
Như vậy, Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đang được đặt trong một hệ thống chính sách rộng hơn, trong đó tiêu chuẩn là cơ sở kỹ thuật, đo lường bảo đảm độ chính xác của phép đo, đánh giá sự phù hợp xác nhận mức độ đáp ứng yêu cầu và quản lý chất lượng gắn với sản phẩm, hàng hóa. Dữ liệu kết nối các khâu này giúp thông tin được tập trung và sử dụng thống nhất hơn. Hiệu quả của hệ thống từ đó sẽ phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối và mức độ khai thác trong thực tế, qua đó cung cấp nguồn thông tin hữu ích cho quản lý Nhà nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh.




