Yêu cầu trên được Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Đinh Thị Mai đưa ra khi phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo khoa học với chủ đề “Xã hội học và Tâm lý học trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo” do Viện Xã hội học và Tâm lý học tổ chức sáng 7/10.

TS Đinh Thị Mai, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát biểu.
Bà Định Thị Mai nhìn nhận, trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển với tốc độ chưa từng có và trở thành một trong những động lực công nghệ quan trọng nhất của thời đại.
Khác với các làn sóng công nghệ trước đây, AI không chỉ thay thế sức lao động hay tự động hóa những thao tác lặp lại mà lần đầu tiên tham gia trực tiếp vào các hoạt động vốn được coi là đặc trưng của con người như nhận thức, ngôn ngữ, sáng tạo, giao tiếp và ra quyết định.
“Vì vậy, trí tuệ nhân tạo không còn đơn thuần là công cụ kỹ thuật mà đang góp phần thay đổi cách con người học tập, làm việc, suy nghĩ, cảm nhận và tương tác, qua đó tác động trực tiếp đến con người và xã hội - những đối tượng cốt lõi của Xã hội học và Tâm lý học”, TS Đinh Thị Mai nói.
Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng tính hai mặt của AI thể hiện rõ nhất ở những tác động tới con người và xã hội.
Một mặt, AI mở ra những cơ hội to lớn để nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng giáo dục, y tế, dịch vụ công, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tâm thần và mở rộng khả năng tiếp cận tri thức cho mọi người dân.
Mặt khác, AI cũng kéo theo nguy cơ suy giảm năng lực tư duy độc lập, khiến con người phụ thuộc vào máy; làm biến đổi đời sống tình cảm và sức khỏe tâm thần, nhất là ở thanh thiếu niên; có thể làm suy giảm các quan hệ xã hội trực tiếp; sự dịch chuyển việc làm và nguy cơ hình thành phân hóa mới giữa những nhóm làm chủ được công nghệ với những nhóm bị bỏ lại phía sau...
“Những thách thức này không thể giải quyết chỉ bằng các giải pháp kỹ thuật, mà đòi hỏi sự hiểu biết thấu đáo về con người và xã hội”, bà Đinh Thị Mai nhấn mạnh.
Theo bà, nếu các ngành khoa học kỹ thuật trả lời câu hỏi AI có thể làm được gì thì Xã hội học và Tâm lý học phải góp phần trả lời AI đang làm thay đổi con người và xã hội như thế nào; những thay đổi nào cần được thúc đẩy, những thay đổi nào cần dự báo, điều chỉnh, kiểm soát.
Đồng thời, các ngành khoa học này cần góp phần tìm lời giải cho bài toán phát triển AI thực sự vì con người, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Từ thực tế trên, bà Đinh Thị Mai đề nghị hội thảo phân tích sâu những yêu cầu mới đối với phát triển và quản trị xã hội trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, gắn với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
“Làm thế nào để tận dụng trí tuệ nhân tạo nâng cao hiệu quả quản trị, cung ứng dịch vụ công và bảo đảm an sinh xã hội? Đồng thời nhận diện sớm, phòng ngừa và giảm thiểu những rủi ro xã hội như thất nghiệp do công nghệ, khoảng cách số, tin giả và các vấn đề sức khỏe tâm thần”, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đặt vấn đề.
Trên cơ sở đó, giới nghiên cứu cần hình thành những luận cứ khoa học phục vụ tư vấn chính sách, góp phần đưa các chủ trương, quy định về AI vào cuộc sống.
Bên cạnh những vấn đề về phát triển và quản trị xã hội, bà Đinh Thị Mai đề nghị làm rõ các nguyên tắc đạo đức trong phát triển và sử dụng AI như tôn trọng phẩm giá và quyền tự chủ của con người, minh bạch, công bằng, an toàn và trách nhiệm giải trình.
Từ đó, cần gợi mở những chuẩn mực ứng xử cụ thể cho người nghiên cứu, người dạy, người học và các lĩnh vực nghề nghiệp khác.
Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cũng yêu cầu đổi mới phương pháp nghiên cứu Xã hội học và Tâm lý học theo hướng kết hợp phương pháp truyền thống với khoa học xã hội tính toán và các công cụ AI; đồng thời tăng cường nghiên cứu liên ngành, đổi mới nội dung đào tạo và nâng cao năng lực số cho đội ngũ nghiên cứu.
“Đổi mới để không bị tụt hậu, nhưng phải giữ vững bản sắc của khoa học về con người: lấy sự thấu hiểu con người làm mục đích, không để công cụ thay thế tư duy khoa học”, bà Đinh Thị Mai nhấn mạnh.

Quang cảnh hội thảo.
AI có thể khiến con người xa lạ với chính hình ảnh của mình
Trình bày tham luận tại hội thảo với chủ đề “Tự thể hiện trong bối cảnh số: Những biến đổi và định hướng nghiên cứu”, TS Nguyễn Thị Phương Hoa, Viện Xã hội học và Tâm lý học chỉ ra rằng sự phát triển của mạng xã hội và gần đây là AI đang làm thay đổi đáng kể cách mỗi người xây dựng và thể hiện hình ảnh của bản thân.
Nếu trước đây công nghệ chủ yếu đóng vai trò công cụ hỗ trợ chỉnh sửa, AI hiện có thể trực tiếp viết bài, tạo ảnh, giọng nói, video và avatar. Công nghệ chuyển từ phương tiện sang đối tác đồng sáng tạo. Do đó, nội dung trực tuyến có thể không còn là sản phẩm hoàn toàn của người dùng mà là kết quả tùy chỉnh giữa ý định của con người và đề xuất của AI.
Đáng chú ý, theo nhà nghiên cứu, AI cho phép nhanh chóng tạo nhiều phiên bản bản thân cho từng loại khán giả và mục đích: hồ sơ nghề nghiệp, hình ảnh đời tư, hình ảnh hẹn hò hoặc hình ảnh dành cho từng cộng đồng. Sự linh hoạt trong tự thể hiện tạo điều kiện cho cá nhân khám phá nhiều khía cạnh của bản thân.
Tuy nhiên, nếu khoảng cách giữa các hình ảnh được trình bày quá lớn hoặc thiếu sự kết nối với trải nghiệm thực tế, cá nhân có thể gặp khó khăn trong việc duy trì một nhận thức tương đối nhất quán và ổn định về bản thân.
Tham luận đặt ra một vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu là liệu con người có “nội tâm hóa” những hình ảnh do AI tạo ra hay không. Việc thường xuyên nhìn thấy một phiên bản lý tưởng của chính mình do AI tạo ra có thể làm thay đổi cách một người nhìn nhận bản thân, thậm chí đặt ra câu hỏi liệu người dùng có cảm thấy xa lạ với con người thật sau thời gian dài sử dụng hình ảnh AI.
Một khoảng trống khác được chỉ ra là tác động của AI đối với sức khỏe tâm thần và quá trình phát triển bản sắc. AI có khả năng làm gia tăng khoảng cách giữa “cái tôi thực” và “cái tôi lý tưởng” khi tạo ra những phiên bản gần như hoàn hảo, được cá nhân hóa và ngày càng khó phân biệt thật - giả. Trong khi đó, hiện còn thiếu các nghiên cứu dài hạn về tác động của AI tới lòng tự trọng, mặc cảm ngoại hình, nỗi sợ bị đánh giá, trầm cảm, lo âu hay khả năng chấp nhận bản thân.
TS Nguyễn Thị Phương Hoa cũng lưu ý các nghiên cứu không nên chỉ tập trung vào nguy cơ do AI gây ra. Công nghệ này mang lại nhiều ích lợi như: giúp người rụt rè biểu đạt rõ ràng hơn, người gặp khó khăn giao tiếp xây dựng quan hệ, giảm rào cản ngôn ngữ, điều chỉnh cách diễn đạt để hạn chế xung đột… Song, cần kiểm tra liệu những lợi ích này có bền vững hay dẫn đến phụ thuộc và suy giảm năng lực tự biểu đạt độc lập.










