món độc lạ cho nhà hàngmồi cho quán nhậucua Cà Mau mua ở đâu ngon
Xuất bản ngày 02/10/2011 11:08 AM

Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm với đoàn tàu không số

(VTC News) – “Trái bí này còn non sao mẹ hái sớm vậy?”. Mẹ trả lời: “Trái bí mà con nói non với già. Vậy xương máu của anh em có non với già không con?”

(VTC News) - Có bao nhiêu thuốc tốt nhất, bệnh xá đều dành cho chúng tôi. Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm và anh em y tá phải ăn khoai, để dành gạo cho chúng tôi…

Lời Toà soạn:50 năm trước đây, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, khi con đường chi viện trên bộ chưa thể vươn tới các chiến trường xa, sâu trong vùng địch chiếm đóng, thì những chuyến tàu nhỏ bé (“tàu không số”) đã bí mật đạp sóng biển Đông, vượt qua sự ngăn chặn, kiểm soát ngặt nghèo của quân thù, để tiếp tế vũ khí, bổ sung lực lượng cho đồng bào, chiến sĩ miền Nam đánh mạnh, thắng to.

Những chuyến tàu của Đoàn vận tải thuỷ 759 (thành lập ngày 23-10-1961 và là tiền thân của Đoàn 125 Hải quân) đã mở đầu cho một hành trình đầy gian khó, hy sinh nhưng mang ý nghĩa quan trọng với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

VTC News xin ghi lại lời kể của Trung tá Lưu Công Hào, người từng là thuyền trưởng tàu 43 của Đoàn 125 Hải quân năm xưa.

Một tàu không số trên Biển Đông. Ảnh do Không quân Mỹ chụp.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, Lữ đoàn 125 đã vượt qua muôn ngàn khó khăn, gian khổ, hiểm nguy; đã lập nên những chiến công to lớn, được Nhà nước 2 lần tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Để có được những chiến công oanh liệt ấy, có nhiều yếu tố được tạo thành, trong đó có một yếu tố vô cùng quý báu. Đó là sự giúp đỡ, thương yêu, đùm bọc của Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương nơi đơn vị đã vận tải vũ khí, hàng hoá đặc biệt đến cho viện cho chiến trường….

Tôi xin chứng minh chân lý này bằng một trận đánh, một chuyến đi vô cùng khó khăn, ác liệt của tàu 43 chở vũ khí vào chiến trường Quảng Ngãi năm 1968.

Xâm nhập và bị phát hiện

Theo kế hoạch đặt ra, tàu 43 chở vũ khí vào bến Ba Làng An (Mộ Đức, Quảng Ngãi) nhưng khi chưa đến bến đã bị địch phát hiện. Chúng dùng tàu chiến và máy bay đánh rất ác liệt. Trận chiến đấu xảy ra trên vùng biển huyện Đức Phổ.

Nhân dân huyện Đức Phổ hoàn toàn bất ngờ trước trận chiến này, vì việc tàu vào bến nào đều được giữ bí mật và chỉ có địa phương biết. Lúc đầu họ chỉ nghĩ đó là cuộc tập trận của Hải quân, Không quân Mỹ và Việt Nam cộng hoà mà thôi.

Nhưng khi thấy tàu 43 bắn rơi máy bay địch, người dân Đức Phổ mới hiểu đó là tàu của ta…Đứng trong trận đấu không cân sức này, cán bộ và nhân dân Đức Phổ rất lo lắng, suy nghĩ chúng ta ở trên bờ phải có sự chi viện giúp đỡ kịp thời để bảo vệ tàu của ta. Đồng chí Bí thư huyện uỷ trực tiếp đến nhân dân xã Phổ Hiệp tổ chức chi viện và chỉ trong một thời gian ngắn đã triển khai được một kế hoạch chi viện tàu 43 rất chu đáo.

Tàu 43 sau hơn một giờ chiến đấu ác liệt, đã có 3 đồng chí hy sinh, 11 bị thương. Đạn sắp hết, tàu sắp chìm. Thuyền trưởng cho tàu lao vào bờ. Lệnh phá huỷ tàu. Kíp nổ hẹn giờ, sau 30 phút tàu sẽ nổ.

Tàu nằm cách bờ 1.000m. Các tổ lần lượt rời tàu, bơi vào bờ trong sóng to nên rất vất vả. Vào đến bờ thì sức của thuỷ thủ đã kiệt, bờ biển khá cao và dốc nên anh em chỉ đủ sức bò từng đoạn một. Tiếng súng bộ binh của địch bắt đầu nổ rộ phía trước….

“Bệnh xá Đặng Thuỳ Trâm”

Đúng lúc ấy, lực lượng chi viện của ra đã kịp đến. Cán bộ xã và du kích cõng, dìu chúng tôi rút nhanh vào thôn Quy Thiện. Sau khi băng bó vết thương và sơ cứu nhanh các đồng chí bị thương, chúng tôi được đưa xuống các hầm bí mật. Chỉ trong chốc lát, bộ binh Mỹ tràn ngập xã Phổ Hiệp lùng bắt chúng tôi.

Suốt 10 ngày đêm, địch càn quyết, cày xới xã Phổ Hiệp để tìm chúng tôi. Song, được sự bảo vệ, chăm lo của cán bộ và nhân dân trong xã, đơn vị tôi vẫn an toàn tuyệt đối. Trong những ngày ấy, người dân đã đưa chúng tôi vượt vòng vây của địch để lên bệnh xá của bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm. Hai chuyến đi không thành công vị bị địch phát hiện và đánh chặn. Đến chuyến thứ 3 mới thoát được.

Bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm

Tổ chức một chuyến đi cũng khó khăn, nguy hiểm vô cùng. Đơn vị có 5 đồng chí bị thương nặng phải nằm trên cán thương. Cứ 5 dân công thay nhau khiêng 1 cáng, có 1 trung đội du kích đi theo bảo vệ.

Một đội hình cồng kềnh gần 100 người, lại phải luồn lách qua nhiều đồn bốt giặc. Nguy hiểm nhất là vượt đường số 1, rồi vùng giáp ranh giữa vùng núi với đồng bằng. Ban đêm lo gặp biệt kích, ban ngày lo gặp máy bay trinh sát, máy bay trực thăng của địch. Sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc.

Đi suốt gần một đêm, một ngày mới đến được bệnh xá. Tình hình bệnh xá lúc ấy vô cùng khó khăn. Địch luôn rình rập tập kích. Thuốc men, lương thực quá thiếu thốn. Vết thương anh em chúng tôi hầu hết đã bị nhiễm trùng nên việc cứu chữa càng vất vả.

Có bao nhiêu thuốc tốt nhất, bệnh xá đều dành điều trị cho chúng tôi. Bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm và anh chị em y tá, cùng bệnh nhân phải ăn sắn, khoai, để dành lại phần gạo ít ỏi để nuôi chúng tôi. Rồi gạo cũng cạn, y tá và anh chị em trong bệnh xá phải về đồng bằng lấy gạo. Chuyến đi ấy có một nữ y tá hy sinh.

Cũng khi đó, một bà mẹ quê ở xã Phổ Cường đem đến cho chúng tôi một quả bí đỏ. Bà mẹ cõng quả bí này đi suốt một ngày đường, vượt qua vùng giáp ranh nguy hiểm, mỗi bước đi là sự sống và cái chết cận kề.

Lúc ở nhà, cô con gái của mẹ có hỏi: “Trái bí này còn non sao mẹ hái sớm vậy?”. Mẹ trả lời: “Trái bí mà con nói non với già. Vậy xương máu của anh em có non với già không con?”

Những người anh hùng

Nhờ sự thương yêu, điều trị tận tình của bác sĩ, y tá và anh em trong bệnh xá, sau một tháng điều trị, các vết thương của anh em chúng tôi đã lành lặn, sức khoẻ được hồi phục và chuẩn bị hành quân về miền Bắc.

Việc chúng tôi vượt Trường Sơn về Bắc được chuẩn bị rất chu đáo. Khi bơi từ biển vào, hầu hết anh em chúng tôi chỉ còn một bộ quần áo. Những ngày ở xã Phổ Hiệp, chúng tôi đã được du kích và nhân dân mỗi người cho một bộ. Huyện cấp cho mỗi người một chiếc võng và 1 tấm che mưa.

Còn anh chị em trong bệnh xá lấy dù pháo may cho chúng tôi mỗi người một chiếc bạt võng chống muỗi. Anh chị em trong bệnh xá còn về đồng bằng mua cho chúng tôi mỗi người 1 cái bi đông đựng nước uống. Nhờ vậy mà suốt hơn 3 tháng vượt Trường Sơn, chúng tôi khắc phục được đau ốm, sốt rét rừng.

Ngày 10-4-1968, chúng tôi lên đường trở về miền Bắc trong buổi tiễn đưa vô cùng cảm động. Chị y tá Hường có đôi má núm đồng tiền duyên dáng, đi với chúng tôi một quãng đường khá dài. Có biết đâu chỉ đúng 10 ngày sau đó chị đã anh dũng hy sinh trên đường làm nhiệm vụ.

Tiếp đó, nhiều anh chị khác cũng đã lần lượt ra đi vì cuộc kháng chiến cứu nước. Đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi có về thăm chiến trường xưa, thăm lại trạm xá của bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm thì duy chỉ gặp lại một chị y tá năm xưa….

Cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt và gian khổ, nếu không có sự thương yêu và giúp đỡ của nhân dân thì quân đội ta không thể dành được thắng lợi.

Trung tá Lưu Công Hào
(Nguyên thuyền trưởng tàu 43)

Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn