cua Cà Mau mua ở đâu ngoncua cấp đông HACCPcua cấp đông có ngon không?
Xuất bản ngày 19/06/2012 11:08 AM

Ấn tượng Kon Plong

Gió mang đầy hơi nước đượm hương lá khiến tôi nhớ về những ngày sơ tán xa xưa. Ở thành phố bây giờ hiếm khi có thể ngửi mùi hương...

Thời tiết:

Chúng tôi đến nơi này vào mùa thời tiết thuận lợi nhất trong năm. Sáng ra nắng vàng óng trên cây, bầu trời cao lồng lộng, xanh thẳm. Thế mà mới quá trưa, thoắt cái, mây đen kéo đến, mưa sầm sập, tôi cúi gằm mặt xuống, vẫn thấy mưa quất rát rạt, chạy mất dép về đến trường mới biết là hồi nãy bị mưa đá. Nhưng vừa mưa mù trời đấy, lát sau nắng lại đã hửng lên, gió mang đầy hơi nước đượm hương lá trong trẻo khiến tôi nhớ về những ngày sơ tán xa xưa. Ở thành phố bây giờ hiếm khi có thể ngửi mùi hương trong gió như thế. Vào mùa thuận lợi nhất mà thời tiết còn như cô gái lỡ thì đỏng đảnh thế này, học sinh đi học còn bước thấp bước cao, đi không khéo sụt chân xuống bùn ngập sâu tới gối, nữa là vào mùa không thuận lợi thì chẳng hiểu thời tiết sẽ thế nào. Đem thắc mắc ấy hỏi cô Hiền, cô không trả lời, chỉ kể: “Ngày em mới vào nhận công tác ở đây, đúng mùa mưa, mấy tháng sau em mới nhìn thấy mặt trời lần đầu chị ạ.”


Mùa mưa kéo dài mấy tháng liền, khi ấy mưa dầm dề chẳng có ngày nào tạnh, các trường muốn mua thực phẩm phải chờ những người tiếp phẩm bằng xe máy (lốp quấn xích) thồ vào trường. Quãng đường trời nắng đi bằng xe máy đã tính bằng giờ đồng hồ, gặp trời mưa thì chịu không thể nào tính thời gian được. Nói mới nhớ, đến Kon Plong tốt nhất bạn đừng bao giờ hỏi từ điểm này đến điểm kia là bao nhiêu cây số, mọi người sẽ cho bạn biết một hệ đo mới: đi từ chỗ này đến chỗ ấy hết bao nhiêu phút xe máy, và cũng đừng tin tuyệt đối vào điều đó, vì 10 phút xe máy trong trời khô có thể thành cả tiếng đồng hồ trong trời mưa. Nói thế còn lịch sự, một nửa quãng đường từ trường Măng Buk 2 trở ra Măng Buk 1, theo lời thầy Đam (hiệu trưởng trường cấp 2 Măng Buk) chỉ cần trời mưa khoảng nửa tiếng là không cách nào đi xe máy được nữa, lúc ấy chỉ có nước khiêng xe mà đi thôi. Khiêng xe thì các thầy nhiều kinh nghiệm rồi, nhưng chắc lượng sức mình không khiêng nổi 2 bà già béo quay nên khi thấy có dấu hiệu trời mưa, thầy cứ đứng ngồi không yên, giục chúng tôi kết thúc công việc để quay ra. Chị em tôi chỉ áy náy là đã đi vào vất vả đến thế mà không chào hỏi các thầy cô đang đứng lớp được tiếng nào.

Thầy Linh kể, những học sinh cấp 3 học ở Măng Đen (cách Măng Buk 40 cây số), cuối tuần đi bộ về thăm nhà, gặp mùa mưa thì đi từ sáng sớm thứ Bảy đến 9-10 giờ tối mới thấy đi ngang trường cấp 2, đói và lạnh run cầm cập. Các thầy cô thương quá, có lúc gọi vào, nấu vội cho bát mỳ tôm để các em ấm bụng, rồi lại đi bộ tiếp đến quá nửa đêm mới về đến nhà. Ngủ với bố mẹ nốt đêm, sáng sớm ra các em lại phải quay lại trường mới kịp vào học ngày thứ Hai. Những câu chuyện như thế, nếu không đến, không gặp cơn mưa quái ác, tôi sẽ không tin là thật.

Mỗi năm chỉ tiêu học sinh của trường cấp 2 Măng Buk đi học cấp 3 trường huyện khoảng 10 em. Điều đáng nói là hầu hết số học sinh giỏi, hiếu học đều sống ở phía trường Tiểu học Măng Buk 2, cho nên quãng đường mà tôi có kinh nghiệm xe máy khoảng 2 tiếng trong trời khô mà các em lặn lội trong đêm thì 10 giờ tối ở Măng Buk 1 bước ra không biết mấy giờ mới về tới nhà. Con đường từ huyện về nó như thế này, tưởng tượng khi mưa biến nó thành bùn nhão, người thành phố mà đi chắc phải mấy ngày mới qua được 40 cây số ấy.

Học sinh ở đây sống tình cảm lắm. Trên đường chở tôi vào Măng Buk 2, đột nhiên thấy thầy Linh dừng lại quát hỏi một bé gái: “Sao em lại về?” Cô bé đỏ bừng mặt: “Em nhớ mẹ lắm!” Thầy nghiêm giọng: “Mai nhớ phải quay lại trường đấy!”, cô bé bẽn lẽn “Vâng ạ” rồi lại cắm cúi bước. Thầy nói, bất kể đầu tuần hay giữa tuần, có những đứa cứ nhớ mẹ là lội bộ cả mấy tiếng đồng hồ về nhà, quáng quàng rồi hôm sau lại quay ra.



Văn hóa:

Học sinh ở Kon Plong chủ yếu là người dân tộc Xê Đăng. Người Xê Đăng theo mẫu hệ, mọi việc trong nhà từ lớn đến nhỏ đều do người mẹ quyết định, theo các thầy cô kể lại thì người đàn ông trong gia đình muốn làm gì cũng phải xin phép vợ… Nhưng bạn mà là phụ nữ cũng chớ có vội mừng, kèm theo quyền quyết định là cả một núi nghĩa vụ chất lên vai người cai quản gia đình. Cũng lại theo lời kể của các thầy cô: người phụ nữ là lao động chính trong gia đình, nếu có 1 gia đình người Xêđăng đi làm về, chắc chắn người vợ lưng gùi nặng, tay bế con dù có vất vả mấy cũng tự xoay xở lấy, người chồng đi người không, tay cầm mỗi cái rựa nhưng không bao giờ chịu bế con hay đeo gùi đỡ cho vợ. Tuy nhiên những vai trò chủ chốt trong cộng đồng như già làng, trưởng thôn, thầy cúng… vẫn thuộc về nam giới.

Cái văn hóa độc đáo ấy nó thấm sâu vào nếp sống của cả các em bé cấp 1, cấp 2: buổi sáng sớm ở khu nội trú, chỉ thấy các học sinh nữ đi kiếm củi và lôi vác củi về, tuyệt nhiên không thấy một bóng con trai nào tham gia lấy củi cả.

Người Xêđăng sợ ma lắm, trời mưa hoặc trời tối là họ hầu như không ra khỏi nhà. Nếu làng có đám ma, lập tức những đứa trẻ bị giữ trong nhà cả tuần lễ, không cho ra đường chứ đừng nói tới chuyện đến trường. Sợ ma thế nhưng phong tục mai táng ở vùng này lại rất sơ sài, có lẽ cũng vì người dân nghèo quá. Thường người ta chỉ quấn người quá cố lại rồi chôn rất nông ở ven đường, hiếm hoi lắm mới có gia đình đủ điều kiện để xây mộ, còn thì chỉ là những nấm đất lùm lùm thấp tè chẳng mấy mà mất hút giữa nhấp nhô đất đá. Trên con đường từ trường Măng Buk 1 vào trường Măng Buk 2, chúng tôi chạy xe qua phải đến 3 khu nghĩa địa, nhưng nếu thầy Linh không chỉ và giải thích cho tôi, tôi chịu chết không sao phân biệt nổi đâu là mô đất, đâu là mồ mả. Đặc trưng nhất của những đoạn ấy là mùi thối khẳn vô cùng khó chịu.

Người Xê Đăng rất trọng chữ tín, nếu bạn là người kinh doanh và bạn bán chịu cho họ, có khi họ không có tiền trả và thiếu nợ đến 5-7 năm trời, nhưng hễ có tiền là họ sẽ tự động mang đến trả cho bạn ngay, không bao giờ quịt nợ hay tìm cách thoái thác nghĩa vụ cả.


Những đứa trẻ ở Tây Nguyên khác hẳn trẻ con Tây Bắc, cũng trong veo đôi mắt, phính hồng đôi má, nhưng chúng không có cái vẻ bình thản, lặng lẽ cam chịu của đám trẻ Tây Bắc. Có cảm giác như bên trong mỗi đứa trẻ ở đây có một ngọn lửa nhỏ hồng rực, lúc nào cũng chực bốc cao lên, sáng bừng, ấm áp. Hai đến ba ngọn lửa nhỏ ấy mà chụm vào nhau thì có thể nghe thấy tiếng lửa phần phật.

Tôi ghé thăm nhiều lớp Tiểu học ở Tây Bắc, chỗ nào cũng đầy ắp những đôi mắt bình yên, đôi khi hơi xa vắng, hiếm khi thấy cảnh cấu chí, trêu chọc, đùa giỡn nhau rôm rả như ở Măng Buk này. Đến điểm trường Văng Lo cùng thầy Thủy (Hiệu trưởng trường Tiểu học - Mẫu giáo Măng Buk 1) tôi vào ngồi chơi với mấy đứa trẻ lớp 2 và lớp 3. Nói qua nói lại một hồi, hết chuyện để khoe, cậu bé có vẻ ngỗ nghịch nhất lớp khoe với tôi, vẻ hăm hở như khoe một sự kiện đặc biệt (bằng mắt, bằng mũi và bằng tay là chính chứ tôi chỉ hiểu được 10% những lời nó nói): “Lớp cháu có 1 bạn gái đau bụng chết đấy!” Tôi giật nảy người, vội gọi thầy Thủy vào nhờ phiên dịch hộ để hỏi cho ra nhẽ. Nói qua nói lại, thầy hiệu trưởng cũng chịu, không hiểu ông nhóc con đang hăng hái giải thích những gì. Chờ cô giáo của cậu bé xong việc, nhờ cô hỏi lại, hóa ra cách đây 1 năm có một cô bé ở lớp ấy vì giận cha mẹ đã ăn lá ngón mà chết. Thấy tôi cứ ngẩn người ra (một đứa bé mới chưa đến 10 tuổi đã biết ăn lá ngón tự vẫn rồi sao?), cô giáo giải thích thêm: “Ở đây cứ động có chuyện gì không vừa ý là người ta tự tử chị ạ, trẻ con cũng bắt chước người lớn mà làm theo, tùy theo làng mà cách tự tử khác nhau, làng thì chuyên treo cổ, làng thì chuyên ăn lá ngón…”

Tôi ra về ám ảnh mãi với câu nói ấy. Trước đến giờ chỉ nghĩ làm mọi việc để các con đỡ khổ, để các con muốn đến trường, cố gắng đến trường cho tương lai các con được tốt đẹp hơn. Bây giờ lại thêm một động lực mới: cầu mong các bé đều được đến trường, để hiểu biết hơn và tránh được những lựa chọn dại dột trong cuộc đời mình.



Các thầy cô giáo:

Ở Kon Plong các thầy cô để lại trong tôi một ấn tượng mạnh mẽ, tôi cứ nghĩ mãi về cái cách họ vừa làm thầy, vừa làm mẹ, vừa làm cha cả mấy trăm học sinh ở trường; cái cách họ gắn bó với nhau, nương tựa vào nhau để đứng vững trong cái điều kiện khó khăn đến cùng cực ấy…

Người đầu tiên tôi gặp là thầy D., hiệu phó trường cấp 2 Măng Buk, người được cử ra đón đoàn từ cách trường đến hơn 20 cây số. Thầy nhỏ con, nhanh nhẹn và xốc vác. Đoàn xe gặp bãi lầy, thầy dừng phắt lại, không ngần ngại lội ngay xuống dò đường, rồi hò đám thanh niên xuống khiêng đá lót đường cho xe đi. Thấy chưa ổn chỗ nào, sẵn cái xẻng dã chiến, thầy không nề hà xúc cả đống đất nhão nhoét sang chỗ khác dẹp được 1 con đường khả dĩ cho xe qua. Đến con ngầm lớn cuối cùng, xe không qua nổi, cũng lại thầy là người nảy ra sáng kiến thuê chiếc xe U-oát ở tại chỗ để đưa đoàn đi tiếp vào trong, gửi 2 cái xe của đoàn có người trông nom chu đáo. Vẫn thiếu chỗ ư? Thầy vẫy ngay cái xe tải đi phía sau, nhờ gửi 3 người của đoàn vào tận trường… Từ lúc được thầy đón, chúng tôi cảm thấy hoàn toàn nhẹ nhõm, dù đường đi mỗi lúc mỗi khó khăn hơn.

Vào trường rồi, tôi bị cuốn vào công việc, thầy cũng mải mốt lo những nghĩa vụ thường nhật của mình, tôi không có lúc nào nói chuyện riêng với thầy cả. Điều khiến tôi phục nhất là dù có đoàn vào thăm, lịch dạy học của trường chính cũng như các điểm trường phụ vẫn duy trì nghiêm ngặt, không hề bị xáo trộn tí nào. Các lớp vẫn lên lớp, vẫn chào cờ, vẫn thi đấu bóng đá, vẫn giờ tự học buổi tối… nề nếp đâu vào đấy. Sáng hôm sau cả đoàn quay ra bằng ôtô, tôi đi xe máy nên ở lại sau một chút mới có dịp nghe thầy kể về công việc của mình bằng một giọng đầy say mê.

Thầy nói, học sinh ở đây thích thể thao, mê văn nghệ và hăng ngoại khóa lắm… nói chung các hoạt động ở trường phải làm sao thật vui mới giữ chân được chúng. Kinh phí có hạn, tổ chức cho các em vui chơi, thi đấu thì không khó, nhưng phần thưởng thì kẹt vì không có ngân sách. Cái khó ló cái khôn, thay vì thưởng cho mỗi cá nhân có thành tích 50 ngàn đồng (mà chúng sẽ mua kẹo bánh ăn hết trong chớp mắt hoặc đem về đưa cho cha mẹ là xong, không để lại ấn tượng gì đặc biệt), thầy thuê in 1 cái giấy khen đơn giản, rồi mua 1 cái bút máy loại tốt để tặng cho em học sinh đó, chi phí rút xuống chỉ còn khoảng 30 ngàn đồng, và em học sinh được thưởng thì sung sướng hơn hẳn khi trước (vì có giấy khen đem về treo ở nhà, để cha mẹ khoe với xóm giềng, còn cái bút thì lúc nào dùng đến cũng cảm thấy tự hào về cái thành tích mà mình đã có).

Trường cấp 2 giống như trung tâm văn hóa - thể thao của xã. Bất cứ hoạt động lễ hội nào của trường (kể cả lễ kỷ niệm ngày thành lập Đoàn 26/3 cách ngày chúng tôi đến khoảng 3 tuần), phụ huynh học sinh và bà con xung quanh kéo đến rất đông để xem. Học sinh thì sung sướng vì được múa được hát được biểu diễn, người dân thì vui vì thấy mình như đang dự một ngày hội lớn. Xét cho cùng, khi người ta yêu mến và hâm mộ nhà trường, việc thuyết phục họ cho con đến trường ở nội trú và học sẽ bớt khó khăn đi rất nhiều.

Quả đúng như thầy giải thích, chiều hôm chúng tôi mới đến, nghe lũ trẻ nô nức gọi nhau: “Đi xem đá bóng đi! Xem đá bóng không?” cứ rộn ràng như kéo nhau đi xem World Cup. Hóa ra là trận bóng giữa 2 lớp của trường. Tiếng cười, tiếng nói, tiếng reo hò của chúng rộn rã cả một góc núi.

(Còn tiếp)

Tác giả: Sống Thật Chậm

Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn